3:47 pm - Thursday April 17, 2014

Triệu chứng bệnh về da bằng hình ảnh

Da là một tổ chức bao phủ gần hết toàn bộ cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân, môi, lỗ hậu môn và da luôn tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Do vậy mỗi khi môi trường bị ô nhiễm, khí hậu nóng bức thì da là một trong các cơ quan của con người sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Bệnh của da (bệnh da liễu) có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng ở trẻ em và người cao tuổi dễ mắc bệnh về da hơn do trẻ em thì sức đề kháng của cơ thể chưa được hoàn thiện và người cao tuổi thì sức đề kháng càng ngày càng bị suy giảm.

Bệnh viêm da cơ địa(Atopic Dermatitis-AD) hay còn gọi là bệnh chàm thể tạng, eczema, sẩn ngứa Besnier, Liken đơn dạng mạn tính…. Viêm da cơ địa là bệnh lý biểu hiện cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính. Một đặc điểm quan trọng của bệnh là hay tái phát. Đa số trường hợp bệnh bắt đầu ở tuổi ấu thơ. Triệu chứng điển hình của bệnh là các thương tổn da khô kèm theo ngứa. Do ngứa gãi nhiều mà da bị dày, bệnh nhân càng ngứa và gãi gây nên vòng bệnh lý “Ngứa-Gãi” làm cho bệnh nặng hơn và có nguy cơ bị bội nhiễm vi trùng. Bệnh có yếu tố di truyền, gia đình và hay xuất hiện ở những người có bệnh dị ứng khác như hen, viêm mũi dị ứng. Có tới 35% trẻ viêm da cơ địa có biểu hiện hen trong cuộc đời. Chẩn đoán bệnh không khó khăn, dựa trên các triệu chứng lâm sàng, nồng độ IgE  trong máu thường tăng cao.               Dịch tễ học:              - Tỷ lệ hiện mắc: Hiện nay, chưa có nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc viêm da cơ địa ở Việt Nam. Theo một số báo cáo ở các nước khác, tỷ lệ khoảng 7-20% [1, 2, 3, 4]. Theo báo cáo của phòng khám Viện Da liễu quốc gia, có khi viêm da cơ địa chiếm khoảng 20% số bệnh nhân đến khám tại phòng khám [5].              - Tuổi phát bệnh:  thường vào hai tháng đầu, có tới 60% trẻ viêm da cơ địa phát bệnh trong năm đầu, 30% trong 5 năm đầu và chỉ có 10% phát bệnh từ 6-20 tuổi. Rất hiếm bệnh nhân phát bệnh khi trưởng thành.  ­- Về giới không khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ, có một vài báo cáo nam mắc nhiều hơn nữ.  - Yếu tố di truyền, gia đình cho thấy 60% người bị viêm da cơ địa có con cũng bị bệnh này. Nếu cả bố mẹ đều bị viêm da cơ địa thì có tới 80% con bị bệnh.                            - Các yếu tố làm bệnh khởi phát và nặng lên bao gồm: các dị nguyên trong không khí như  các chất thải của rệp nhà, len dạ... Ngoại độc tố của tụ cầu trùng vàng (Staphylococus aureus) đóng vai trò siêu kháng nguyên kích thích hoạt hóa T limphô và đại thực bào. Dị ứng nguyên nội sinh (endogenous antigens): trong huyết thanh bệnh nhân có kháng thể IgE có thể kích thích IgE hoặc T limphô đáp ứng viêm. Thức ăn: Một số thức ăn cũng có thể làm vượng bệnh như trứng, sữa, lạc, đậu tương, cá, bột mỳ…              - Các yếu tố khác làm phát bệnh hoặc bệnh nặng lên, đó là giảm chức năng của hàng rào bảo vệ của da cùng với giảm lớp ceramic trên bề mặt da làm cho da dễ bị mất nước gây khô da. Mùa hay bị bệnh thường vào mùa thu đông, nhẹ vào mùa hè. Đồ len dạ của trẻ, của bố mẹ và thậm chí đồ này của chó mèo, đồ thảm hoặc đệm giường cũng làm cho bệnh nặng lên.              Biểu hiện lâm sàng  -         Giai đoạn cấp tính: Biểu hiện bệnh khi cấp tính là đám da đỏ ranh giới không rõ, các sẩn và đám sẩn, mụn nước tiết dịch, không có vẩy da. Da bị phù nề, chảy dịch, đóng vảy tiết. Các vết xước do gãi tạo vết chợt, bội nhiễm tụ cầu tạo các mụn mủ và vẩy tiết vàng. Bệnh thường khư trú ở trán, má, cằm, nặng hơn có thể lan ra tay, thân mình.   -         Biểu hiện bán cấp với các triệu chứng nhẹ hơn, da không phù nề, tiết dịch.  -         Giai đoạn mạn tính da dày thâm, ranh giới rõ, liken hoá, các vết nứt đau; đây là hậu quả của việc bệnh nhân ngứa gãi nhiều. Thương tổn hay gặp ở các nếp gấp lớn, lòng bàn tay, bàn chân, các ngón, cổ, gáy, cổ tay, cẳng chân.               Triệu chứng bệnh: khô da, ban đỏ- ngứa tạo thành vòng xoắn bệnh lý: ngứa-gãi-ban đỏ-ngứa... Ngoài ra người bệnh còn có các triệu chứng khác như viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc mắt và viêm ngứa họng, hen. Các biểu hiện bệnh lý như chứng vẽ nổi (dermographism), bệnh vẩy cá thông thường, dày sừng nang lông…có thể gặp trên bệnh nhân viêm da cơ địa.              Vị trí hay gặp mặt, trán, mặt gấp các chi, gáy, mi mắt, cổ tay, mu tay, mu chân, trường hợp nặng có thể lan toàn thân.              Tiến triển:  Không điều trị bệnh tiến triển trong nhiều tháng, nhiều năm. Khoảng gần 50% bệnh khỏi khi ở tuổi thiếu niên, nhưng cũng nhiều trường hợp bệnh tồn tại lâu trong nhiều năm cho đến tuổi trưởng thành. Nhiều bệnh nhân bị hen hoặc các bệnh dị ứng khác.  Chẩn đoán:  Hiện nay có một số tiêu chuẩn chẩn đoán viêm da cơ địa được đưa ra, chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn của Hanifin và Rajka (1980). Để chẩn đoán viêm da cơ địa cần có ít nhất 3 tiêu chuẩn chính + ít nhất 3 tiêu chuẩn phụ.  4 tiêu chuẩn chính:  1. Ngứa (Itching).  2. Viêm da mạn tính và tái phát (Chronic or chronically relapsing dermatitis).  3. Hình thái và vị trí thương tổn điển hình (Typical distribution and morphology of AD rash).  - Trẻ em: Chàm khu trú ở mặt, vùng duỗi.  - Trẻ lớn và người lớn: Dày da, Lichen vùng nếp gấp.  4. Tiền sử cá nhân hay gia đình có bệnh cơ địa dị ứng (Personal or family history of atopic diseases) như hen, viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa.  Các tiêu chuẩn phụ:  1. Khô da (Dry skin).  2. Viêm môi (cheilitis).  3. Đục thủy tinh thể ( Anterior subcapsular cataract).  4. Viêm kết mạc mắt và kích thích ở mắt tái phát.  5. Mặt: Đỏ, tái.  6. Dị ứng thức ăn (Food intolerance).  7. Chàm ở bàn tay (Hand eczema).  8. IgE tăng (Elevated IgE levels).  9. Phản ứng da tức thì týp 1 dương tính (Immediate skin test type 1 reactivity).  10. Dễ bị nhiễm trùng da và hay tái phát.  11. Ngứa khi ra mồ hôi (Itching on sweating).  12. Vẩy phấn trắng (Pityriasis alba).  13. Chứng vẽ nổi (Dermographism).  14. Giác mạc hình chóp (Keratoconus).  15. Các thương tổn khác giống dày sừng nang lông (Other like Keratosis Pilaris),  16. Tuổi phát bệnh sớm  17. Chàm núm vú  18. Nếp dưới mắt Dennie- Morgan  19. Quầng thâm quanh mắt              Điều trị:  - Tư vấn cho người bệnh tránh chà xát, không gãi là một việc rất quan trọng. Đồng thời cho các thuốc bôi, thuốc uống chống ngứa cho bệnh nhân. Bôi kem dưỡng ẩm rất cần thiết vừa có tác dụng chống khô da vừa có tác dụng tránh ngứa, hạn chế tái phát. Kem dưỡng ẩm phải được sử dụng hàng ngày và dùng lâu dài sau khi triệu chứng đã được cải thiện. Loại trừ và tránh các chất gây dị ứng như  đề cập ở trên. Tư vấn cho bố mẹ bệnh nhân không dùng đồ len dạ trực tiếp vào da của trẻ, bố mẹ và những người chăm sóc trẻ cũng cần tránh dùng đồ len dạ khi tiếp xúc với trẻ.              Điều trị viêm da cơ địa cần rất cẩn trọng, có sự hợp tác rất chặt chẽ giữa thày thuốc và người bệnh, đối với trẻ nhỏ là bố mẹ bệnh nhân. Tuỳ theo giai đoạn bệnh là cấp tính, bán cấp hay mạn tính mà cho thuốc bôi phù hợp.  - Viêm da cơ địa cấp tính: cần đắp ẩm thương tổn và bôi kem corticoit+ kháng sinh. Cho kháng sinh uống để chống tụ cầu trùng vàng trong trường hợp bội nhiễm. Kháng histamin chống dị ứng và chống ngứa.  - Viêm da cơ địa bán cấp và mạn tính được điều trị bằng các thuốc sau:              + Làm ẩm da bằng kem bôi hoặc sữa tắm có kem.              + Thuốc corticosteroid: rất có hiệu quả đối với viêm da cơ địa nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ nguy hại nếu dùng lâu dài, do vậy cần có chỉ định chặt chẽ.              + Các thuốc chống viêm khác không phải corticosteroid như tacrolimus có thể thay thế corticosteroid mà không gây các tác dụng phụ như thuốc này và có thể dùng lâu dài, thuốc có thể chống viêm và chống ngứa.              + Uống kháng histamin chống ngứa.              + Một số trường hợp nặng có thể uống corticoid, nhưng cần có chỉ định chặt chẽ của thày thuốc.              + Các phương pháp điều trị khác: UVA, UVB, các thuốc như cyclosporin...              Phác đồ điều trị một bệnh nhân viêm da cơ địa:              - Chống khô da bằng các thuốc dưỡng ẩm.              - Điều trị bằng bôi corticosteroid trong thời gian ngắn, sau đó duy trì bôi tacrolimus + dưỡng ẩm thời gian dài để tránh tái phát bệnh.              - Chống nhiễm tụ cầu bằng thuốc kháng sinh bôi hoặc uống.              - Kháng histamin chống ngứa.
Viêm da cơ địa

 

 

Nổi mày đay
Bệnh tổ đỉa

 

Bệnh ghẻ
Bệnh xơ cứng bì
Viêm nang lông
Nấm móng
Bệnh trứng cá
Bệnh vẩy phấn hồng
Bệnh vẩy nến
Bệnh hắc lào
Bệnh lang ben
Hạt cơm
Bệnh Ngoài Da

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

One Response to “Triệu chứng bệnh về da bằng hình ảnh”

  1. 27/08/2012 at 3:16 pm #

    Một số kinh nghiệm điều trị bệnh ngoài da bằng Y học Cổ truyền

    LY. Đinh Thế Hiệp

    Đông y từ ngàn xưa đã có nhiều kinh nghiệm phong phú trong việc phòng và chống bệnh tật. Xuất phát từ những kinh nghiệm đó nền Đông y Việt Nam cũng đã tổng kết được nhiều bài thuốc, vị thuốc, những mẹo vặt có giá trị trong điều trị thực tế rất hay. Ở tài liệu này, chúng tôi chỉ trình bày một số bệnh chứng thông thường và kinh nghiệm điều trị về những chứng trạng đó.

    I. Bệnh rôm sảy

    Rôm sảy dân gian còn gọi là mụn mồ hôi hay rôm nhiệt, đây là một loại bệnh ngoài da thường gặp nhiều về mùa hè và mùa thu hàng năm, ở lứa tuổi nào cũng có thể bị, nguyên nhân do khí hậu ở hai mùa hè và mùa thu vừa nóng nực vừa ẩm ướt, mồ hôi đọng ở da thịt khó bay hơi làm bít lỗ chân lông mà thành rôm sảy.

    Đông y cho rằng nguyên nhân gây bệnh là do thấp uất ở lỗ chân lông, ôn nhiệt tích trệ dưới da không bài tiết ra được. Biểu hiện trên lâm sàng thường thấy ở lớp dưới da nổi từng đám đỏ như nốt sởi mụn to nhỏ không đều có cảm giác nóng rát và ngứa.

    Phép trị: thanh nhiệt khu thấp.

    Kinh nghiệm điều trị:

    1. Thuốc dùng ngoài da:

    - Dùng rau sam tươi khoảng 200g, cho vào khoảng 2 chén nước (200ml), nấu còn khoảng hơn nửa chén (50ml). Sau khi sắc để nguội dùng để rửa hoa75c thấm lên vùng da bị rôm.

    - Lá mướp tươi khoảng 60g, giã vắt lấy nước nguyên chất thoa lên vùng da bị rôm sảy.

    - Lộ lộ thông 30g, Bạch phàn 15g cho vào khoảng 1 chén nước (100ml) nấu sôi còn khoảng 50ml bỏ bã, dùng thuốc khi nước thuốc còn âm ấm, thoa lên vùng rôm sảy ngày làm 3 lần có tác dụng làm giảm ngứa nhanh.

    2. Thuốc uống:

    - Lục nhất tán (Cam thảo 1 muỗng cà phê, Hoạt thạch 6 muỗng cà phê) trộn đều 2 thứ lại với nhau hòa với nước sôi, để nguội uống.

    - Kim ngân hoa 10g, Hạ khô thảo 10g, Trúc diệp 6g sắc uống.

    3. Kinh nghiệm bằng ăn uống:

    - Bí đao 250g, ý dĩ 50g, cho vào lượng muối vừa phải, nấu thành canh, ăn cả nước và cái.

    - Bạc hà tươi 30g nấu lấy nước, dùng 100g gạo tẻ nấu thành cháo, khi cháo chín lấy nước bạc hà hòa vào với cháo, có thể thêm ít đường phèn, đun sôi vài dạo,để nguội mới ăn.

    - Nấu cháo gạo tẻ, khi được cháo, hòa thêm vào 10 – 15g bột Cúc hoa, ăn ngày 2 lần sáng và chiều.

    II. Bệnh mề đay

    Bệnh mề đay dân gian gọi là mụn cơm quỷ, mụn phong quỷ. Đông y xếp vào bệnh ngoài da với tên gọi là tầm ma Chẩn. Y học cổ truyền nhận định bệnh này do ăn uống không giữ gìn, khí hậu thời tiết kích thích, hoặc do ký sinh trùng đường ruột… làm chodoanh vệ không hòa, bên ngoài không thông, bên trong không sơ tiết, uất lại ở bì phu mà thành bệnh. Các thể thường gặp trên lâm sàng là: phong nhiệt, phong hàn, thực trệ cảm phong và chứng huyết hư.

    1. Thể phong nhiệt:

    a. Triệu chứng:

    Trên da nổi lên những nốt đỏ, rất ngứa, trời nóng thì bệnh tăng có kèm sốt, cảm giác miệng khô khát nước tiểu có màu vàng, đại tiện thường bón, đầu lưỡi đỏ hoặc sắc lưỡi đỏ, mạch phù sác.

    b. Phép trị: khu phong thanh nhiệt.

    c. Thuốc trị:

    - Thuốc dùng ngoài: Bèo tím 30g, Địa phụ tử 30g, Mộc phòng kỷ 15gsặc đặc lấy nước rửa chỗ ngứa.

    - Thuốc uống trong: Bèo tím g, Ngưu bàng tử 10g, Kim ngân hoa 12g, Hạnh nhân 6g, Kinh giới 6g, Sinh địa 12g, cam thảo 3g, Bạc hà 6g (cho vào sau) sắc uống.

    2. Thể phong hàn:

    a. Triệu chứng:

    Ngoài da nổi lên những nốt đỏ nhạt, ngứa, gặp gió lạnh thì bệnh gia tăng, ớn lạnh, không ra mồ hôi, miệng nhạt không khát, rêu lưỡi trắng, sắc lưỡi đỏ nhạt, mạch phù khẩn.

    b. Phép trị: khu phong tán hàn.

    c. Thuốc trị:

    - Thuốc dùng ngoài: lá tía tô50g, Bào cái 50g. sắc lấy nước để rửa ngoài.

    - Thuốc uống trong: Kinh giới 10g, Phòng phong 10g, Thuyền thoái 6g, Ma hoàng 6g, Hạnh nhân 6g, Bạch tiên bì 12g, Cam thảo g. Sắc uống.

    3. Thể thực trệ cảm phong:

    a. Triệu chứng:

    Trên da nổi hết đợt này đến đợt khác những nốt sần ngứa làm mất ngủ, các nốt nổi lên phần nhiều có màu đỏ, bủng đầy, ợ hơi, có mùi chua, đại tiện khó đi, rêu lưỡi đầy bẩn, mạch hoạt.

    b. Phép trị: khu phong thanh nhiệt tiêu trệ.

    c. Thuốc trị: Kinh giới 10g, Địa phụ tự 15, bạch tiên bì 15g, Liên kiều 12g, Đại hoàng 6g, Hậu phác 10g5, Dơn sâm 15g, Mạch nha 15g, Sơn tra 12g.

    4. Chứng huyết hư:

    a. Triệu chứng:

    Trên da nổi các nốt màu đỏ nhạt, ngứa nổi liên tiếp từng đợt này đến đợt khác, thời gian nổi thường từ buổi chiều đến nửa đêm kèm theo các triệu chứng của huyết hư như chóng mặt hoa mắt, tim đập hồi hộp, ngươờ mau mệt mỏi. Phụ nữ hành kinh lượng kinh thường ít, màu kinh nhạt, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi nhạt, mạch tế.

    c. Thuốc trị:

    - Thuốc dùng ngoài: Thuyền thoái 20g, bạch phàn 20g, Xà xàng tử 15g sắc lấy nước rửa chỗ ngứa.

    - Thuốc uống trong: Đương quy 18g, hà thủ ô 15g, Hồ ma nhân 15g, Phụ tử 12g, Hoàng kỳ 15g, Phòng phong 10g sắc uống.

    III. Bệnh thể tiên (ngứa toàn thân)

    a. Triệu chứng:

    Triệu chứng đầu tiên thường gặp ở lớp da bị tổn thương nổi từng nốt đỏ, quầng đỏ, có bề mặt sần sùi, dần dần chu vi lan rộng bề mặt và gồ cao trên mặt làm thành từng quầng hình tròn như đồng tiền, rất ngứa. Bệnh này nếu phát sinh ở vùng mông hoặc phía trong đùi vế thì có tên bệnh là Cổ tiên.

    b. Thuốc dùng ngoài:

    Xuyên căn bì 12g, tán bột. Dấm ăn 250ml ngâm với bột Xuyên căn bì trong 7 ngày, dùng nước thuốc này lên vùng da bị bệnh, ngày thoa 3 – 4 lần. Lưu hoàng 30g, Minh phàn 10g, Lô cam thạch 6g, Đại toán 10g, Dấm ăn 25ml. Các vị thuốc được tán bột sau đó hòa đều với giấm ăn đun nhỏ lửa cho sôi khoảng 10 phút. Khi nguội thoa lên vùng da bệnh ngày 3 – 4 lần làm liên tục trong 10 ngày.

    IV. Bạch điến phong

    Y học cổ truyền co02n gọi là Bạch ngự phong, Lang ben là bệnh ngoài da giảm ít sắc tố, thường phát sinh ở tuổi thanh niên, hay phát ở vùng mặt, thân mình, chân tay, cũng có khả năng phát ra ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể, bệnh tình kéo dài, có từng mảng ban mất sắc tố, có hình tròn to nhỏ không quy tắc, có ranh giới rõ với lớp da bình thường, ngoài cảm giác mất mỹ quan nhan sắc, không có cảm giác mất thoải mái nào khác. Nguyên nhân gây bệnh theo Y học cổ truyền thường do tình chí uất ức can khí mất điều đạt, khí huyết bất hòa gây nên. Theo Hồng nghĩa Giác tư Y thư thì nguyên nhân gây bệnh thường đo phong thấp nhiệt mà sinh ra.

    a. Thuốc dùng ngoài:

    Rau sam tươi 400g rửa sạch vắt lấy nước, cứ 100ml nước cốt rau sam thì hòa với 2g bằng sa, ngày bôi lên vùng da bệnh hai lần, làm liên tục trong vòng 1 tháng.

    Lá muồng Trâu rửa sạch dùng nguyên lá xát lên vùng da bệnh ngày làm 2 lần, làm liên tục trong 10 ngày.

    V. Mụn

    Mụn là bệnh mưng mủ cấp tính nang lông và tuyến mỡ da. bệnh do nhiễm phải cầu trùng làm mủ như tụ cầu trùng vàng hoặc trắng. Mụn thường xuất hiện ở vùng đầu mặt cổ, bất kỳ mùa nào cũng có, nhưng mùa hè thường nhiều hơn. Đông y xấp vào chứng Thốc sương, nguyên nhân gây bệnh là do nhiệt độc từ trong cơ thể và từ ngoài cơ thể xâm nhập vào.

    Phép trị: thường dùng thanh nhiệt giải độc.

    1. Thuốc dùng ngoài:

    Nha đam rửa sạch, giã nát đắp lên vùng mụn, mỗi ngày làm 1 – 2 lần.

    Bồ công anh tươi rửa sạch giã nát đắp vào mụn, mỗi ngày làm 1 – 2 lần.

    2. Thuốc uống trong (chữa viêm nang lông)

    Sinh địa 30g, Đan bì 9g, Bồ công anh 15g, Xích thược 9g, Côn bố 9g, hạ khô thảo 9g, Tam lăng, Nga truật (sao) mỗi thứ 9g, Hải tảo 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống liên tục 15 ngày.

    Người bị mụn nhọt nên ăn các thực phẩm thanh đạm, không nên ăn các thức ăn cay nóng, có thể ăn các thực phẩm mát như ăn canh Bí đao, chè đậu xanh nấu với đường phèn, hoặc ăn canh rau nấu với thịt heo.

Viết phản hồi