8:59 pm - Saturday October 25, 2014

Thuốc trị cảm cúm

Chữa cảm cúm

Đông y

Tại cuộc họp của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm A/H1N1 hôm 1-9-2009, ông Chu Tiến Cường – cục trưởng Cục Quân y (Bộ Quốc phòng), cho biết tại Quân đoàn 4 có gần 200 cán bộ chiến sĩ nhiễm cúm A/H1N1.

Nhưng qua điều trị bằng phác đồ của Bộ Y tế kết hợp với thuốc đông y ngay tại bệnh viện của đơn vị, hầu hết cán bộ chiến sĩ đều đạt kết quả khả quan. Ông Cường hướng dẫn thêm:

- Các vị thuốc đông y chúng tôi đã sử dụng hỗ trợ điều trị số cán bộ chiến sĩ nhiễm cúm A/H1N1 ở Quân đoàn 4 là hoàng kỳ và cam thảo. Đây đều là các thuốc có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể. Dùng hai vị này sắc cho bệnh nhân uống, kết hợp với uống Tamiflu theo phác đồ của Bộ Y tế, khảo sát gần 100 trường hợp đều thấy bệnh nhân nâng cao được thể trạng, sức đề kháng tăng, hạ sốt nhanh, số ngày điều trị giảm, có chuyển biến sức khỏe tốt, không có trường hợp bệnh chuyển sang chiều hướng nặng.
Đông y trị cảm cúm

Cảm cúm Đông y gọi thương phong. Nguyên nhân chính là do bộ máy hô hấp kém khả năng lọc sạch không khí, nên vi khuẩn, virut trong không khí thâm nhập cơ thể khi sức đề kháng sút kém hoặc bị viêm niêm mạc mũi, họng, amidan… mà xuất hiện cảm cúm. Để chữa cảm cúm, trong Đông y có nhiều phương pháp như xoa bóp, đánh gió, xông hơi, trích máu, châm cứu…

Bấm huyệt thái dương

Theo y học hiện đại cảm là một chứng bệnh viêm nhiễm phổ biến, nguyên nhân do cảm nhiễm các loại virut khác nhau; cảm có thể chia ra cảm thông thường và cúm. Cảm thông thường là một chứng bệnh viêm nhiễm cấp tính ở đường hô hấp trên, thường do virut gây ra. Những biểu hiện lâm sàng bao gồm: hắt hơi, ngạt mũi và chảy nước mũi, khô rát họng sau đó đau họng, khản tiếng, ho khan, mệt mỏi…

Cúm là do virut cúm gây, là bệnh viêm nhiễm cấp tính rất hay lây. Biểu hiện người ớn lạnh đột ngột rồi sốt cao 39oC hoặc kèm theo nhức đầu nhiều, đau mỏi tứ chi, đau lưng, toàn thân mệt mỏi… Sau đây xin giới thiệu một số phương pháp chữa cảm bằng Đông y.

Đông y chia cảm thành hai thể: cảm hàn (phong hàn) và cảm nhiệt (phong nhiệt). Tùy biểu hiện mà dùng bài thuốc hay phương pháp thích hợp.

Cảm hàn (phong hàn):

Triệu chứng: sốt, sợ lạnh, sợ gió, toàn thân đau mỏi, nhức đầu, hắt hơi, sổ mũi, rêu lưỡi trắng mỏng.

Bài thuốc: tía tô (cả lá và cành) 12g, trần bì (vỏ quýt) 6g, hương phụ 12g, gừng 6g, cam thảo nam 6g. Đổ 400ml nước, sắc còn 200ml, uống lúc nóng cho ra mồ hôi. Uống từ 1 đến 3 thang.

Nếu có đầy bụng, buồn nôn cho thêm hoắc hương 12g, hậu phác 12g. Trẻ em uống 1/3 – 2/3 liều người lớn, tùy tuổi.
Vị trí huyệt cần tác động

* Nghing hương: Cạnh cánh mũi đo ra 0,5 tấc.
* Ấn đường giữa: Giữa 2 đường lông mày.
* Thái dương: Chỗ lõm giao điểm của đuôi mắt với khóe mắt ngoài, (cánh đuôi mắt 1 tấc ra phía ngoài).
* Phong trì: Bờ xương chẩm.
* Khúc trì: Khúc khuỷu, chỗ đầu vận ngang ngoài khuỷu tay.
* Hợp cốc: Giữa xương bàn tay, 1/2 trên mu bàn tay hơi lệch về phía ngón tay trỏ.

Cảm nhiệt (phong nhiệt):

Triệu chứng: sốt nóng, sợ gió, đầu nặng, đau họng, miệng khô, ra mồ hôi, ho có đờm, đau lưng, miệng khô, khát, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng. Khám thấy họng đỏ.

Bài thuốc: bạc hà 8g, kim ngân hoa 12g, lá tre 20g, cam thảo nam 12g, kinh giới 12g. Đổ 400ml nước sắc còn 200ml để nguội rồi uống. Uống 1 – 3 thang.

Phương pháp xông hơi (nồi lá xông): Dùng cho hai thể cảm hàn và cảm nhiệt, nguyên liệu gồm có: lá bưởi, cúc tần, hương nhu, ngải cứu, tía tô, lá sả, lá tre mỗi thứ 1 nắm bằng nhau cho vào nồi đổ ngập nước, đậy vung thật kín, đun sôi vài phút rồi xông. Khi xông trùm chăn kín và từ từ mở vung để hơi nóng bốc lên từ từ tránh bỏng. Khi bệnh nhân ra mồ hôi và cảm thấy dễ chịu thì thôi, không được kéo dài; sau khi xông nên ăn cháo hành cho chút muối. Nếu có cháo thịt, trứng thì càng tốt.

Chú ý: Xông ở nơi kín gió, không xông với thể cảm sốt ra mồ hôi nhiều, trẻ nhỏ dưới 7 tuổi, người già yếu, phụ nữ có thai hoặc đang có kinh nguyệt, người mất máu, mất nước nặng.

Phương pháp đánh gió: dùng cho cả cảm hàn và cảm nhiệt. Phương pháp đánh gió có tác dụng tốt với các bệnh ngoại cảm chưa tổn thương tạng phủ nghĩa là bệnh còn ở biểu. Nguyên liệu dùng để đánh gió có thể lựa chọn như sau:

* Trứng luộc (lòng trắng) + bấm bạc.
* Gừng tươi (củ) + tóc rối + rượu 40o.
* Lá trầu không + dầu tây (dầu hỏa).
* Kỹ thuật đánh: bệnh nhân có thể nằm hay ngồi, người đánh gió đứng bên cạnh hay phía sau người bệnh.

Nguyên liệu đánh gió chọn một trong các nguyên liệu trên tùy theo trong nhà sẵn có.

Gừng tươi 50g giã nhỏ sau đó lấy mớ tóc rối quấn xung quanh gừng, ngoài cùng bọc bằng vải mỏng hoặc khăn mùi xoa rồi nhúng vào chén rượu, sau đó chà xát hai bên cột sống từ cổ tới mông, có thể làm rộng ra hai bên khối cơ của lưng và thắt lưng, rượu khô lại tẩm tiếp và xát như vậy khoảng 10 – 20 phút (vùng da nơi đánh gió nóng và hơi đỏ). Hoặc:

Trứng gà luộc chín bóc bỏ vỏ rồi lấy lòng trắng trứng cho bấm bạc (đồng bạc) vào giữa, (lòng trắng bọc xung quanh), ngoài cùng bọc vải mỏng hoặc khăn mùi xoa rồi tiến hành đánh như trên. Phương pháp này hay dùng đánh gió cho trẻ em.

Lá trầu không và dầu hoả cũng làm như trên.

Day huyệt hợp cốc

Phương pháp xoa bóp: Dùng cho thể bệnh nhẹ.

- Vuốt trán: Dùng hai ngón tay cái hoặc ngón trỏ và ngón giữa vuốt từ giữa trán sang hai bên đến tận huyệt thái dương, làm 30 lần.

- Vuốt ấn đường: dùng ngón tay cái hoặc ngón tay trỏ và ngón giữa vuốt từ ấn đường lên đỉnh trán 30 lần.

- Day huyệt nghinh hương: dùng hai đầu ngón tay giữa day vào huyệt nghinh hương khoảng 50 lần. Day huyệt thái dương: dùng 2 ngón tay cái hoặc ngón giữa day vào huyệt thái dương. Khi day, đặt phần mềm của ngón vào đúng huyệt, day đi day lại, không để móng tay sắc tránh tổn thương da.

- Day huyệt phong trì: dùng 2 ngón tay cái day ấn vào huyệt phong trì 15 lần.

- Day huyệt khúc trì: dùng ngón cái tay phải day huyệt khúc trì ở tay trái rồi đổi tay trái để day huyệt bên tay phải, mỗi bên 30 lần.

- Bấm huyệt hợp cốc: dùng ngón cái, ngón trỏ hoặc ngón giữa tay phải bấm vào huyệt hợp cốc ở tay trái rồi đổi tay trái bấm hợp cốc ở tay phải.

Chú ý: Khi bấm, động tác tay bấm theo nhịp một mạnh, một nhẹ, lực bấm vừa phải, từ nhẹ đến mạnh. Dù là day bấm hay vuốt vào huyệt vị, nếu cảm thấy rát, sưng, đau, tê thì dừng lại. Ngoài ra người bệnh cần được nghỉ ngơi, uống đủ nước và uống thuốc cảm.

Phòng bệnh: Bệnh hay mắc khi thời tiết thay đổi nhất là khi cơ thể bị lạnh đột ngột. Vì vậy để phòng cần giữ ấm cơ thể và đeo khẩu trang khi đi ra đường để tránh cảm lạnh. Khi nơi ở có dịch cúm cần phòng bệnh bằng cách:

Uống rượu tỏi: 100g tỏi giã nát ngâm với nửa lít rượu 60 độ, ngâm trong 2 ngày, lọc trong, mỗi tuần uống 3 lần, mỗi lần uống 20 – 30 giọt với nước lọc. Không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai.

Nhỏ mũi bằng nước tỏi: nước sôi để nguội hoà với tỏi đã giã (3 nhánh tỏi pha từ 10 – 15 giọt nước), lọc nước trong, nhỏ vào mũi. Không dùng cho trẻ sơ sinh (mà chỉ nên cho ngửi).

 

Thuốc tây

Phòng chống cúm vào mùa đông

Tân Hoa xã dẫn lời tiến sĩ Marc Schlosberg của Bệnh viện Phục hồi chức năng quốc gia Mỹ cho hay cách hữu hiệu nhất để chống cúm trong mùa đông là tiêm vắc-xin.

Ngoài ra còn có một số cách khác, ví dụ ăn thức ăn nhiều chất bổ dưỡng, giàu protid bao gồm gà, cá và các sản phẩm sữa không béo. Tiến sĩ Schlosberg cũng khuyên ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc, vì những thứ này chứa chất chống ô-xy hóa để giữ lượng vitamin C, beta-carotene, kẽm và các loại vitamin B trong máu. Tập thể dục thường xuyên và điều độ cũng sẽ đẩy mạnh hệ thống miễn dịch, và đừng quên nghỉ ngơi. Tiến sĩ Schlosberg cũng chỉ ra rằng ngủ là một cách để tăng cường sức mạnh cho hệ miễn dịch.

Những cách tự nhiên trị cúm hiệu quả

Trời lạnh và những chuyến du xuân, ăn uống thiếu khoa học sẽ rất dễ khiến cảm cúm “ghé thăm”. 4 cách sau đây sẽ giúp bạn không còn phải lo lắng về căn bệnh thời tiết này nữa.

1. Tăng cường hệ miễn dịch

Đó là cung cấp vitamin từ thảo dược, rau xanh, hoa quả để tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Thiếu ánh nắng mặt trời cộng thêm việc hàng ngày bị stress sẽ làm giảm khả năng miễn dịch tự nhiên, dễ viêm nhiễm.

Nên ra ngoài phơi nắng để cơ thể hấp thụ được vitamin D và hạn chế stress đồng nghĩa với việc bạn có một cơ thể khoẻ mạnh miễn nhiễm với cúm.

Ngoài ra bạn có thể tự tạo tinh dầu chống vi rút cúm bằng hỗn hợp sau:

- 1 ít tinh dầu oliu

- 10 giọt tinh dầu trà

- 10 giọt tinh dầu oải hương

- 5 giọt tinh dầu bạch đàn

- 5 giọt tinh dầu rau thơm Oregano

Trộn đều hỗn hợp này sau đó nhỏ vào mũi mỗi sáng trước khi đi làm để mũi luôn thông thoáng và khô ráo.

2. Không dùng thuốc hạ sốt

Nếu bắt đầu cảm thấy mệt mỏi, đau đầu, nhức mắt, đau người, đau cơ, da trở nên nhạy cảm hơn cùng với đó là thân nhiệt tăng dần thì hẳn cơ thể đang phản ứng lại với những độc tố tiết ra từ vi rút cúm.

Đừng hạ sốt bởi thân nhiệt tăng chính là một trong những phản ứng bảo vệ tự nhiên của cơ thể. Nếu dùng bất cứ loại thuốc hạ sốt nào khi thân nhiệt chưa vượt quá 38,5 độ C nào thì cơ chế bảo vệ sẽ bị “nhiễu loạn”, kéo dài thời gian khỏi bệnh.

3. Bắt đầu uống các loại nước…

Cách tốt nhất để giúp cơ thể chống lại vi rút cúm là “giải” độc tố do vi rút sản sinh ra bằng cách cứ nửa giờ uống các loại nước như nước trà với chanh, nước pha với quả nam việt quất và chanh, nước axit xitric…cộng thêm với 5.000mg vitamin C uống hàng ngày.

Uống nhiều nước sẽ giúp thận thải độc tố qua đường nước tiểu.

 

Thảo dược

Chữa cảm và cúm bằng thảo dược

Để chữa cảm mạo, có thể lấy kinh giới tươi 50 g, gừng sống 10 g giã nát, vắt lấy nước uống, dùng bã đánh dọc sống lưng.

Theo y học cổ truyền, phong hàn nhiễm lạnh là nguyên nhân gây cảm mạo; phong nhiệt gây bệnh cúm. Phong hàn và phong nhiệt xâm phạm vào cơ thể làm phát sinh các chứng: Ho, sợ lạnh, sợ gió, nhức đầu, nghẹt mũi (phong hàn, cảm mạo); ho, sốt, sợ gió không sợ lạnh, mũi khô (phong nhiệt, cúm).

Các dược thảo điều trị cảm cúm gồm:

Các cây có tinh dầu: Thường dùng lá các cây chứa tinh dầu có tác dụng diệt khuẩn đường hô hấp như tía tô, hoắc hương, hương nhu, kinh giới, tràm, bạc hà, sả… để nấu nước xông hoặc dùng làm một thành phần trong các bài thuốc sắc trị cảm và cúm.

Bạch chỉ

Bạch chỉ: Có tác dụng kháng khuẩn, hạ sốt, giảm đau, điều trị cảm cúm, sốt xuất huyết, đau nhức đầu. Ngày dùng 5-10 g sắc uống hoặc dùng dưới dạng viên, hoàn, bột.

Chỉ thiên: Có tác dụng kháng khuẩn và kháng virus, được dùng chữa cảm mạo, sốt cao, ho. Ngày dùng 16-20 g cây khô hoặc 50 g cây tươi sao vàng, sắc uống.

Cúc hoa vàng: Tinh dầu từ nụ cúc hoa vàng có tác dụng kháng khuẩn. Hoa cúc được dùng chữa các chứng cảm lạnh, sốt, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu. Ngày dùng 8-16 g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Cúc tần: Có tác dụng hạ nhiệt và giảm đau, được dùng chữa cảm mạo, sốt không ra mồ hôi, mình mẩy đau nhức. Ngày dùng 8-16 g dạng thuốc sắc hay hoàn, tán.

Cúc tần

Cỏ lá tre: Có tác dụng hạ nhiệt, được dùng làm thuốc hạ sốt, khát nước, trẻ em sốt cao, co giật. Ngày dùng 10-15 g phối hợp với các vị khác sắc uống. Không dùng cho phụ nữ có thai.

Địa liền: Có tác dụng hạ sốt, giảm đau và chống viêm, được dùng chữa cảm mạo, ho, ngực bụng lạnh đau. Ngày dùng 3-6 g dạng thuốc sắc, hãm, bột hay viên.

Kim ngân: Có tác dụng ức chế mạnh nhiều loài vi sinh vật gây bệnh, được dùng làm thuốc hạ sốt, điều trị bệnh cúm do phong nhiệt, virus. Ngày dùng 4-6 g hoa hay 10-16 g cành lá dưới dạng thuốc sắc, hãm hoặc hoàn, tán. Dùng riêng hay phối hợp với các vị khác.

Sài hồ: Được dùng trị sốt, đau và viêm kết hợp với bệnh cúm và cảm lạnh, nhức đầu, chóng mặt, sốt do thương hàn. Ngày dùng 4-12 g dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị khác.
Tỏi: Có phổ kháng khuẩn rộng, được dùng riêng hoặc phối hợp trong các bài thuốc trị cảm mạo, cúm, sốt do nhiễm khuẩn.

Các bài thuốc chứa cúm do phong nhiệt:

- Kim ngân, kinh giới, thanh cao mỗi vị 80 g; tía tô, địa liền, cà gai leo mỗi vị 40 g, gừng 20 g. Tán bột, sắc uống mỗi ngày 16-20 g.

- Kinh giới, bạc hà, thạch cao mỗi vị 60 g; phèn chua phi 30 g, phác tiêu 15 g. Tán bột, mỗi ngày uống 4-8 g, chia làm 2 lần uống.

- Lá dâu 10 g, hạnh nhân, cát cánh mỗi vị 8 g; liên kiều, rễ sậy, mỗi vị 6 g; cúc hoa, bạc hà, cam thảo mỗi vị 4 g. Sắc uống mỗi ngày 1-2 thang.

- Kim ngân, liên kiều mỗi vị 40 g; bạc hà, cát cánh, ngưu bàng tử mỗi vị 24 g; cam thảo, đậu sị (đậu đen chế biến) mỗi vị 20 g; hoa kinh giới 16 g, lá tre 4 g. Tán bột, mỗi lần dùng 24 g sắc uống, ngày 3-4 lần.

Chữa cảm mạo

- Kim ngân 4 g, tía tô, kinh giới, cam thảo đất, cúc tần mỗi vị 3 g; gừng 3 lát. Sắc uống ngày một thang.

- Hoa kinh giới, tía tô, hương nhu, ngải cứu, hoắc hương lượng bằng nhau, sắc nhiều lần, cô thành cao đặc, viên bằng hạt ngô. Ngày uống 7-8 viên với nước lá tre. Trẻ con 2-4 viên.

- Kinh giới, sả, tía tô, bạc hà, lá bưởi, lá chanh, mỗi thứ một nắm, đun sôi, xông trong 5-10 phút.

- Kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi vị 20 g; cúc hoa, địa liền mỗi vị 5 g. Làm thành thuốc bột hoặc viên, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 4-6 g.

- Lá tía tô, hương phụ, cà gai leo mỗi vị 80 g; trần bì 40 g. Tán bột, ngày dùng 20 g sắc uống.

Chữa cảm sốt

- Bạch chỉ, xuyên khung lượng bằng nhau. Tán thành bột, uống mỗi lần 2-3 g, ngày 3-4 lần với nước nóng cho ra mồ hôi.

- Chỉ thiên, lá cối xay mỗi vị 40 g; bạc hà, cam thảo đất mỗi vị 20 g, gừng 3 lát. Tất cả dùng tươi sắc uống.

- Chỉ thiên, sắn dây, rau má, lá chanh, cam thảo đất mỗi vị 30 g; nếu ra nhiều mồ hôi, thêm lá tre 1 nắm. Sắc uống nguội.

- Hương nhu tía 500 g, hậu phác (tẩm gừng nướng) 200 g, bạch biển đậu (sao) 2.000 g. Tất cả tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 10-20 g với nước sôi để nguội.

- Thanh cao tươi 20 g, giã nát, hòa vào một chén nước nóng, gạn uống rồi đắp chăn cho ra mồ hôi. Nếu có rét, thêm 3 lát gừng tươi.

Dùng tỏi phòng chống cúm
Dùng tỏi phòng chống cúmCúm là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở đường hô hấp do loại virut cúm gây ra. Y học cổ truyền có nhiều loại cây lá có tác dụng phòng chống cúm, trong đó thông dụng nhất là tỏi.

Tỏi tên khoa học là Allium sativum L. Thuộc họ hành tỏi Liliaceae. Trong tỏi có một ít iốt và tinh dầu. Thành phần chủ yếu của tỏi là một chất kháng sinh alixin có công dụng kháng khuẩn, kháng virut và kháng ký sinh trùng. Trong bài viết này, chúng tôi xin được một số cách dùng cụ thể để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

* Cách 1: Tỏi 100g, gừng tươi 100g, giấm ăn 500 ml. Tỏi và gừng rửa sạch, thái nhỏ rồi cho vào lọ ngâm với giấm, bịt kín, sau chừng 30 ngày thì dùng được, pha chế với nước chấm hoặc mỗi ngày uống 10ml sau bữa ăn.
* Cách 2: Tỏi 1 củ, bóc vỏ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước rồi dùng nước sôi để nguội pha loãng gấp 10 lần, nhỏ mũi mỗi ngày từ 3 – 5 lần. Hoặc dùng nửa tép tỏi, giã nhuyễn trong chén đã rửa sạch rồi cho 10 ml nước muối sinh lý (Natri clorid 0,9%) vào chén, khuấy nhẹ, bỏ bã, gạn lấy phần nước trong, dùng để nhỏ mũi 2 – 3 lần trong ngày.
* Cách 3: Tỏi 60g, đậu xị 30g. Hai thứ đem nấu thành canh ăn trong ngày, mỗi ngày 1 thang, dùng liền trong 3 ngày.
* Cách 4: Tỏi 2 củ, lá tre tươi 20g, lá sen 10g, lá cải củ 30g. Tất cả rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước nhỏ mũi 2-3 lần trong ngày.
* Cách 5: Tỏi 6 củ, gừng tươi 12g, một ít đường đỏ. Tất cả đem sắc lấy nước uống nóng, mỗi ngày 1 thang.
* Cách 6: Tỏi 25g, hành củ 50g. Hai thứ rửa sạch, thái nhỏ, sắc kỹ với 250 ml nước, uống mỗi lần 1 chén, mỗi ngày 3 lần.
* Cách 7: Tỏi 1 củ, giấm gạo vừa đủ. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch giã nát, chế thêm nước đun sôi rồi cho giấm gạo vào, đem đổ vào ấm pha trà, dùng hơi nóng để xông mũi và miệng.
* Cách 8: Tỏi 10g, lá bạc hà 20g, lá ngải cứu 30g, lá đại thanh (lá bọ mẩy) 12g, thạch xương bồ 12g. Các vị giã nát rồi bỏ vào túi vải, đem đeo trước ngực để phòng chống cảm cúm.
* Cách 9: Tỏi 6g, lá bạc hà 6g, lá đại thanh 20g, rễ chàm 12g. Các vị thuốc đem giã nát, bỏ vào chén nhỏ, mỗi ngày ngửi vài ba lần.

 

Món ăn

Món ăn phòng trị cảm cúm

Nhức đầu, nóng sốt, ớn lạnh, đau ê ẩm mình mẩy, đau họng, ho… có thể là dấu hiệu của cảm cúm. Một số món ăn sau đây giúp phòng trị cảm cúm:

- Kinh giới 15 g, bạc hà 5 g, đạm đậu xị (đậu đen chế) 10 g, gạo 100 g. Kinh giới, Bạc hà, Đạm đậu xị nấu trong 5 phút từ khi sôi (không nên nấu lâu), lấy nước bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo, khi cháo chín, thêm nước thuốc, nấu chung. Mỗi ngày 2 lần, ăn lúc nóng, một liệu trình là 3 – 4 ngày. Thích hợp dùng trong bệnh cảm, phát sốt ớn lạnh, đau đầu, đau họng, bứt rứt mất ngủ và thời kỳ đầu liệt thần kinh mặt.

- Phòng phong 15 g, hành 2 cọng, gạo 100 g. Phòng phong, hành nấu lấy nước, bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo, chờ khi cháo chín thêm vào nước thuốc, nấu cháo loãng. Mỗi ngày 2 lần, ăn ngay lúc nóng, dùng liền 3 ngày. Thích hợp cho người bị cảm lạnh, phát sốt ớn lạnh, sợ gió, ra mồ hôi trộm, đau đầu, đau mình, lạnh đau tê các khớp. Món ăn thích hợp hơn cho người bệnh già và trẻ dạng suy yếu.

- Hành lá to với lượng vừa đủ, nếp 60 g, gừng tươi 5 lát, giấm 5 ml. Hành cắt thành đoạn dài 3 cm (dùng 5 đoạn), cùng nếp vo sạch, gừng lát nấu thành cháo. Sau cùng nêm giấm, ăn ngay lúc nóng. Sau ăn đắp chăn cho vã mồ hôi nhẹ. Thích hợp cho người cảm lạnh, ho. Món ăn này không dùng chung với mật ong.

- Gừng tươi 50 g, gạo rang 50 g, đường đen vừa đủ. Gừng tươi rửa sạch cắt lát mỏng, cùng gạo rang nấu cháo, nêm đường đen trộn đều. Ăn ngay lúc nóng, ngưng ăn sau khi lành bệnh. Thích hợp dùng trong bệnh cảm lạnh, nghẹt mũi chảy nước mũi, ho có đàm loãng, chán ăn. Cũng có thể dùng cho người bệnh nôn ói do lạnh. Không dùng cho người cảm nóng và nôn ói do nóng dạ dày.

- Đạm đậu xị (đậu đen chế) 20 g, Kinh giới 6 g, Ma hoàng 2 g, Sắn dây 30 g, Sơn chi 3 g, Thạch cao sống 60 g, gừng tươi 3 lát, hành 2 cọng, gạo 100 g. Trước tiên các vị thuốc cho vào nồi đất nấu chung (nấu khoảng 5 phút, không lâu), bỏ bã lấy nước, cho vào gạo, cùng nấu cháo loãng. Ăn ấm lúc đói, mỗi ngày 3 lần, ngưng ăn sau khi vã ra được mồ hôi, hạ sốt. Thích hợp dùng trong bệnh cảm mà gây sốt cao, phổi nóng phát suyễn, đau đầu, không mồ hôi, bứt rứt, mất ngủ, họng khô miệng khát, và những người nhiễm bệnh do virus gây sốt cao không vã được mồ hôi. Không dùng cho người bệnh cảm lạnh, sợ lạnh.

- Bạc hà khô 15 g (tươi 30 g), gạo 100 g, đường phèn vừa đủ. Trước tiên nấu lấy nước bỏ bã (nấu 2 phút, không lâu). Gạo vo sạch nấu cháo, chờ khi cháo chín, nêm đường phèn vừa đủ và nước thuốc Bạc hà, nấu sôi gấp. Ăn khi ấm, mỗi ngày 2 lần. Thích hợp cho người bị cảm nóng, đau đầu mắt đỏ, cổ họng sưng đau. Cũng có thể làm thức uống ngừa say nắng vào mùa nóng.

- Thạch cao sống 60 g, Sắn dây 25 g, Đạm đậu xị (đậu đen chế) 2 g, Kinh giới 5 g, Ma hoàng 1,5 g, gừng tươi 3 lát, hành 3 cọng, gạo 100 g. Các vị thuốc trên rửa sơ, rồi nấu lấy nước bỏ bã, cho lắng cặn, gạo vo sạch thêm nước, sau khi nấu sôi, thêm nước thuốc, hành nấu thành cháo loãng. Ăn ngay lúc nóng, sau khi ăn vã mồ hôi hạ sốt thì ngưng. Thích hợp cho bệnh cảm sốt cao không giảm, phổi nóng ho suyễn, đau đầu, bứt rứt, mất ngủ, không mồ hôi, miệng khát, họng khô…

- Nếp 60 g, gừng tươi 5 g, hành 5 cọng, giấm 15 ml. Trước tiên nếp vo sạch cùng gừng tươi cho vào nồi đất nấu cháo, sau khi sôi lại thêm hành, nấu tiếp, chờ khi cháo chín, nêm giấm, nấu sơ thì dùng. Khi chữa bệnh cảm, nhất định ăn ngay lúc nóng, mỗi ngày 2 lần, dùng liền 3 ngày. Sau khi ăn lên giường đắp chăn cho ra mồ hôi nhẹ là tốt nhất. Sau khi vã mồ hôi cần tránh gió lạnh. Thích hợp cho bệnh cảm lạnh, đau đầu, ớn lạnh, phát sốt, đau nhức mình mẩy, nghẹt mũi chảy nước mũi, ho, nhảy mũi… Lưu ý: không dùng cho người bệnh cảm nóng, sốt cao bứt rứt, sợ nóng không sợ lạnh. Trong chế biến, giấm phải nêm vào sau, không nấu lâu.

 

Thuốc nam

Thuốc nam chữa cảm cúm

Cảm cúm có thể xuất hiện 4 mùa nhưng thường hay gặp nhất về mùa đông xuân vì các tác nhân gây bệnh phát triển nhiều và sức đề kháng của cơ thể kém. Cúm hay phát triển thành dịch. Theo Đông y, cảm cúm thuộc phạm vi ôn bệnh (còn gọi là ôn dịch, dịch lệ). Y học cổ truyền có thể điều trị các thể nhẹ và điều trị hỗ trợ các thể trung bình.

- Với triệu chứng nổi bật là sốt, sợ gió lạnh, không có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, nhức đầu, hơi có cảm giác khát, rêu lưỡi mỏng, mạch nhanh (trên 90 lần/phút). Đông y sử dụng các vị thuốc có tinh dầu, tính cay mát, sát khuẩn đường hô hấp như bạc hà, kinh giới; có tính kháng sinh như kim ngân hoa, liên kiều; có tác dụng hạ sốt như như lá tre, lá dâu; giảm ho, đau họng như cát cánh, cam thảo, ngưu bàng tử…

Bài thuốc: liên kiều 40g, kim ngân 40g, bạc hà 24g, kinh giới 16g, trúc diệp (lá tre) 16g, đậu xị 20g, cát cánh 24g, ngưu bàn tử 24g, cam thảo 20g. Các vị thuốc trên xay nhỏ, mỗi lần uống 30g sắc với rễ lau tươi, khi thấy hương thơm bốc lên thì rót ra uống (không sắc lâu vì bay mất tinh dầu làm giảm tác dụng của thuốc). Ngày uống 3 lần, uống liền 3 ngày.

- Với triệu chứng chính là ho, sốt nhẹ 38 – 38,5 độ, hơi khát nước, thường dùng các thuốc có vị cay, tính mát, kháng khuẩn, giảm ho, hạ sốt nhẹ. Bài thuốc gồm: hạnh nhân 8g, bạc hà 7g, cúc hoa 4g, sinh cam thảo 3g, liên kiều 6g, tang diệp 8g, cát cánh 8g, rễ lau 8g. Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần uống trong ngày.

Lưu ý: Nếu có cảm giác nóng trong ngực, thêm hoàng cầm để thanh phế nhiệt, chống bội nhiễm. Nếu khát nước thêm thiên hoa phấn để tăng thể dịch, giảm cảm giác háo khát.

- Với triệu chứng toàn thân nóng, nằm không yên, ra mồ hôi, khó thở kiểu hen, ho, mạch nhanh trên 90 lần/phút. Phương pháp chữa thanh nhiệt, tuyên phế, bình suyễn. Các vị thuốc thường dùng có tác dụng giãn phế quản, giảm xuất tiết, giúp thông đường thở, giảm ho và hạ sốt.

Bài thuốc gồm các vị sau: ma hoàng 12g, hạnh nhân 12g, trích thảo 12g, thạch cao 16 – 40g. Sắc uống ngày 1 thang, uống trong ngày, uống liền 3 ngày.

 
 

benhvathuoc st

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Thuốc chữa bệnh

No comments yet.

Viết phản hồi