Thuốc chữa bệnh động kinh

Có 6.137 lượt xem

Một số thuốc chữa bệnh động kinh

 

{tab=Thuốc Tây}

Phenobarbital (gardenal)


Đây là thuốc ngủ nhóm barbituric nhưng có tác dụng điều trị động kinh cơn lớn và động kinh cục bộ. Tuy nhiên, liều độc của thuốc rất gần với liều điều trị, vì vậy dễ gây tai nạn trong điều trị, có thể gây tử vong cho bệnh nhân. Hơn nữa, hiệu quả của thuốc không cao, tác dụng phụ rất nhiều là nguyên nhân chính khiến các bác sĩ hạn chế sử dụng thuốc này. Tác dụng phụ “đáng sợ” nhất của gardenal là làm giảm trí tuệ của bệnh nhân sau một thời gian dài dùng thuốc. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, các bệnh nhân dùng gardenal để điều trị động kinh sẽ có chỉ số IQ rất thấp, nhưng nếu chuyển sang điều trị động kinh bằng các thuốc khác như valproat, carbamazepin thì IQ tăng lên thêm 15 – 20 điểm và có thể trở về mức bình thường. Như vậy thuốc gardenal khiến bệnh nhân “đần độn” nhiều hơn cả bệnh động kinh, và thuốc chính là thủ phạm gây mất khả năng lao động cho bệnh nhân. Tiếc thay, do nhiều lý do khác nhau, đến nay gardenal vẫn được dùng rất phổ biến trong lâm sàng để điều trị bệnh  động kinh.

Phenytoin (sodanton)

Thuốc này có hiệu quả điều trị động kinh cục bộ, động kinh cơn lớn tốt hơn gardenal. Nhưng thuốc cũng có rất nhiều tác dụng phụ. Tác dụng phụ hay gặp nhất là mất ham muốn tình dục ở nữ và liệt dương ở nam sau một thời gian dài điều trị. Ngoài ra, cũng như gardenal, thuốc gây giảm trí tuệ rõ rệt ở các bệnh nhân, dần khiến họ trở thành “đần độn”, vì thế ngày nay thuốc ít được sử dụng trong lâm sàng.

Valproat (depakin, encorat)

Đây là thuốc chống động kinh có hiệu quả tốt trong đa số các bệnh nhân động kinh cục bộ, cơn lớn, cơn bé… vì vậy hay được lựa chọn sử dụng trong lâm sàng. Thuốc ít tác dụng phụ, không gây giảm trí tuệ ở bệnh nhân động kinh. Mặt khác, thuốc có tác dụng chỉnh khí sắc, vì vậy còn có hiệu quả điều trị các rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân động kinh. Tác dụng phụ đáng lưu ý nhất là gây dị tật ở đốt sống cổ cho thai nhi ở người mẹ động kinh điều trị bằng valproat. Vì thế, người ta khuyến cáo không nên sử dụng thuốc này cho phụ nữ có thai, nhất là trong 3 tháng đầu. Nếu bắt buộc phải dùng thì phải giảm liều tối đa (không quá 400mg/ngày). Thuốc đóng viên 200mg, 300mg, 500mg. Liều trung bình 800mg/ngày, chia làm 2 lần (sáng 400mg, tối 400mg).

Carbamazepin (tegretol)

Đây là thuốc chống động kinh tốt cho các cơn động kinh cục bộ, động kinh cơn lớn, nhưng không có tác dụng cho động kinh cơn bé. Ngoài ra, thuốc còn dùng để điều trị đau dây thần kinh số V, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, đái tháo nhạt… Tuy nhiên, thuốc hay gây dị ứng chậm (xuất hiện 10-15 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc), vì thế tình trạng dị ứng thường rất nặng nề. Để tránh dị ứng, người ta cần tăng liều thuốc từ từ, trong 2 tuần đầu chỉ dùng 400mg/ngày. Nếu thấy dị ứng thuốc thì ngừng thuốc ngay và dùng corticoid để điều trị dị ứng. Do dùng liều thấp nên dị ứng không quá nặng nề. Sau 2 tuần, nếu không có dị ứng thì chúng ta tăng liều đến liều đủ đáp ứng điều trị (thường là 800mg/ngày).

Oxcarbazepin (oxetol)

Đây là thuốc chống động kinh mới, có hiệu quả cao với các cơn động kinh cục bộ, động kinh cơn lớn. So với carbamazepin thì thuốc này ít gây dị ứng, hiệu quả cao hơn hẳn. Ngoài ra, thuốc còn dùng để điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực, đau dây thần kinh số V. Thuốc đóng viên 150mg và 300mg, ngày dùng từ 600mg đến 1.200mg, chia làm 2 lần (sáng, tối). Thuốc không ảnh hưởng đến trí tuệ của bệnh nhân.

Toprimac (topamax)

Đây là thuốc chống động kinh mới, có tác dụng cả trên cơn cục bộ, cơn lớn, cơn bé… Thuốc có tác dụng cả trên các bệnh nhân động kinh đã điều trị bằng các thuốc chống động kinh khác nhưng thất bại. Thuốc không ảnh hưởng đến trí tuệ của bệnh nhân. Đóng viên 25mg và 50mg. Liều dùng 100mg-200mg/ngày, chia làm 2 lần sáng và tối.

Lamotrigin (lamotor)

Đây là thuốc chống động kinh có hiệu quả rất tốt trên các cơn cục bộ, cơn lớn kể các các trường hợp động kinh kháng trị. Thuốc không ảnh hưởng đến trí tuệ của bệnh nhân. Thuốc đóng viên 25 và 50mg, ngày dùng 200mg-400mg, chia làm 2 lần sáng và tối.

Levetiracetam (keppra)

Thuốc chống động kinh mới, có tác dụng điều trị các trường hợp động kinh cục bộ và cơn lớn, kể cả các trường hợp kháng điều trị. Thuốc không ảnh hưởng đến trí tuệ của bệnh nhân. Thuốc đóng viên 500mg, ngày dùng trung bình 1.000mg, chia làm 2 lần (sáng và tối).

Nói chung, các bệnh nhân động kinh cần điều trị lâu dài, có thể dùng một thuốc hoặc phối hợp 2-3 loại thuốc chống động kinh với nhau để tăng hiệu quả điều trị. Bệnh nhân cần phải được khám và làm điện não kiểm tra định kỳ để có thể điều chỉnh thuốc được hợp lý và chính xác.

{tab=Khí công}

Xin chào khí công y đạo, kính chào thầy, năm nay con 21 tuổi con bị bệnh động kinh từ năm 10 tuổi và tính đến giờ đã 10 năm rồi, con muốn hỏi thầy môn khí công của thầy có thể chữa được bệnh của con không? nếu chữa được thì phải có những yếu tố nào, vì con đang ở Hà Nội. rất mong thầy sớm hồi âm lại cho con. xin cám ơn thầy!

Thưa thầy con xin kể tiếp về bệnh của mình, bệnh này của con nó hay bị đột ngột nhất là trong giai đoạn thay đổi thời tiết, những lúc cơ thể mệt có thể bị nhiều lần mà mỗi lần bị ít nhất là 20 giây và nhiều nhất là 2 phút, toàn thân co cứng và khó thở, cứ trung bình 1 tuần bị ít nhất 1 lần thường bị vào lúc đói, nhũng lúc bị xong cơ thể lúc nóng lúc lạnh, nguyên nhân chủ yếu là do tim đập nhanh, mất bình tĩnh hoặc là sock do 1 việc gì đó là cơn động kinh nó lại xuất hiện thầy ạ. Con rất mong thầy giúp đỡ. Con xin cám ơn thầy!

Bệnh này nguyên nhân do thiếu khí huyết sau một biến cố sốt nhiệt năm 10 tuổi, đã dùng nhiều trụ sinh làm mất máu, áp huyết hạ thấp thí dụ như 100-105/70-75mmHg mạch 80.

Áp huyết này đối với trẻ em 10 tuổi là áp huyết bình thường nhưng đang bị sốt, vì mạch bình thường của trẻ em là 65-70, đối với trẻ em mạch cao hơn là sốt vẫn còn tiềm ẩn trong cơ thể chưa trừ tận gốc.

Theo thời gian áp huyết cũng tăng theo từ từ ở thiếu nhi 95-100/60-65mmHg mạch 60, thiếu niên 100-105/65-70mmHg mạch 65, thanh niên 100-110/70-75mmHg mạch 70,tráng niên 110-120/70-80mmHg m ạch 70-75, trung niên 120-130/70-80mmHg mạch 75-80, lão niên 130-140/80-90mmHg mạch 75-80, nếu độ tuổi và áp huyết không tương xứng, hoặc ít hơn là ra bệnh, đông y gọi là bệnh thuộc hư chứng, nếu cao hơn làm ra bệnh, đông y gọi là bệnh thực chứng.

Máy đo áp huyết chính là thầy thuốc khám định bệnh cho mình về khí huyết chính xác nhất, cho nên nếu tuổi thiếu niên mà có áp huyết của một lão niên sẽ bị chết, hoặc lão niên có áp huyết của một thiếu niên là bệnh ung thư máu, tủy sống không sinh sản ra tế bào máu, cũng sẽ phải chết.

Bệnh động kinh cũng không ngoại lệ, vì thế cần phải đo áp huyết ở 2 bên tay, xem có giống nhau không, có 4 trường hợp xảy ra như sau :

A-Nguyên nhân :

a- Áp huyết 2 bên tay đều thấp so với tuổi là do thiếu máu không nuôi dưỡng thần kinh đầy đủ, bệnh thuộc hư chứng. (Bệnh của con thuộc loại này)

b- Áp huyết 2 bên tay đều cao hơn so với tuổi, làm đứt chạm mạch và dây thần kinh, bệnh thuộc thực chứng..

c- Áp huyết có thể một bên tay đo đúng số tuổi, nhưng tay kia thấp hơn thuộc hư chứng nửa bên.

d- Áp huyết có thể một bên tay đo đúng số tuổi , nhưng tay kia cao hơn so với số tuổi thuộc thực chứng một bên.

Mỗi áp huyết của một bên tay đều cho biết khí huyết lên nửa đầu nuôi nửa não bộ đủ hay thiếu… từ đó mới biết nguy ên nhân để điều chỉnh cho đúng bệnh.

B-Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :

Trường hợp a : Bệnh hư chứng hai bên do thiếu khí huyết, áp huyết thấp cả 2 bên .

Tinh : Thiếu máu cần phải mua ở tiệm thuốc bắc, hai loại thuốc : 1- sirop bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe-Gin), pha 2 muổng canh với 1 ly nước nóng uống trước 3 bữa ăn 5 phút, nó có công dụng tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành máu, tăng hồng cầu, uống xong mỗi chai thuốc làm tăng áp huyết lên được 2mmHg. Muốn bổ máu phải kiêng ăn những chất chua, chất lạnh sẽ phá hỏng máu, mất hồng cầu và làm hạ áp huyết. 2-Dưỡng Tâm Đơn, hộp thuốc lớn bằng 2 bao diêm, bọc vải đỏ trông giống như hộp đựng nữ trang, bên trong có 2 bình hồ lô nhỏ bắng đầu ngón tay út, mỗi bình chứa 50 viên thuốc nhỏ bằng nửa hạt gạo, mỗi sáng ngậm 5 viên vào miệng cho tan dần, công dụng bổ tâm, an thần kinh, để tâm thần không bị hồi hộp xúc động.

Không được để cơ thể bị đói mệt, cần phải ăn uống tẩm bổ, và thỉnh thoảng nấu chè táo đỏ, long nhãn bổ máu an thần.

Khí : Tập khí công bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 3-5 phút để tăng khí huyết lên đầu nuôi thần kinh, giúp khí huyết tuần hoàn khắp toàn thân làm tăng nhiệt. Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần để đưa khí huyết lên đầu nuôi não, Vặn Mình 4 Nhịp 20 lần để điều chỉnh cột sống, chức năng gan tỳ thận. Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần để tăng cường sự tuần hoàn khí huyết ra tay và mạnh chức năng tim phổi. Dậm Chân Phía Trước Phía Sau 5 phút đưa khí huyết xuống chân. Tập khí công 7 bài đầu Cào Đầư, Cào Gáy, Chà Gáy, Vuốt Gáy, Vuốt Cổ, Chà Tai, Xoa Mặt để chỉng thần kinh não bộ.

Thần : Nằm thở thiền, nam đặt bàn tay trái lên mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, bàn tay phải chồng lên trên, nhắm mắt cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi, theo dõi lúc thở ra, tưởng tượng hơi nóng đang dồn ra bàn tay, và bụng xẹp xuống khi hơi thở ra làm cho bụng mềm và nóng ấm lên, nếu để nhiệt kế theo dõi nhiệt độ ở dưới bàn tay trước khi tập thì lạnh, khoảng 29 độ C, sau khi tập 30 phút, nhiệt kế chỉ 37 độ C, bàn tay ấm, rịn mồ hôi, bụng mền là tập đúng. Bài này luyện thần kinh não bộ hoạt động theo sự kiểm soát của mình, mình sẽ khống chế được những cơn động kinh, vì khi bị lên cơn động kinh là khi mất máu não, giống như tự nhiên bị mất điện.

Bệnh của con thuộc vào trường hợp a.

Trường hợp b : Bệnh thực chứng, áp huyết cao cả 2 bên tay là dư thừa khí huyết.

Tinh : Nên ăn chất chua, hàn lạnh làm hạ áp huyết, như canh chua, dưa chua, nước đá chanh. Không nên ăn chất cay nóng như nhãn, soài, sầu riêng, mít, chôm chôm, khô mực, coca, cà phê… sẽ làm tăng áp huyết. Nấu súp 100g téo tỏi, 100 đậu ván trắng (bạch biển đậu) với 8 bát nước, cạn còn 3 bát,vớt vỏ tỏi ra, rồi uống hết nước và ăn cái làm hạ áp huyết. Uống trà hoa cúc sau mỗi bữa ăn và trước khi đi ngủ làm hạ thân nhiệt, an thần, ngủ ngon. Không được ăn no qúa.

Khí : Tập 7 bài đầu của khí công : Cào Đầu, Cào Gáy, Chà Gáy, Vuốt Gáy, Vuốt Cổ, Chà Tai, Xoa Mặt làm thông khí huyết trên đầu, chỉnh lại chức năng hoạt động thần kinh của não bộ. Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần thông khí huyết ra tay, mạnh chức năng hoạt động của tim phổi. Dậm Chân Phía Trước Phía Sau 5-10 phút đưa khí huyết xuống chân làm hạ áp huyết. Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần làm hạ áp huyết, thông khí huyết toàn cơ thể.

Dùng kim thử tiểu đường châm vào 10 đầu ngón tay ngón chân nặn máu để giải tỏa áp lực máu dồn lên đầu, và làm hạ áp huyết, hạ thân nhiệt, khi có cảm giác sắp bị lên cơn động kinh, đã có dấu hiệu báo trước mặt đỏ trán nóng, hai lòng bàn tay nóng, trong trường hợp này phải nằm, lấy khăn lạnh chườm lên trán cho hạ nhiệt. Nếu đi bơi lội mỗi tuần càng tốt.

Thần : Nằm thở Đan Điền Tinh, nam tay phải đặt dưới rốn 5cm, bàn tay trái đặt chồng lên trên, cuốn lưỡi, ngậm miệng hé, mắt nhắm, thổi hơi ra bằng miệng làm giảm áp lực khí trong cơ thể để áp lực khí không dồn lên não, theo dõi hơi nơi hai bàn tay dưới rốn cảm thấy bàn tay và bụng phồng lên xẹp xuống theo hơi thở, khi theo dõi được khí chuyển động, để ý khí sẽ đi xuống chân hay khí ra sau lưng, bài tập này sẽ làm cho hạ áp huyết, an thần, ngủ ngon, tập trước khi đi ngủ 30 phút.

Trường hợp c : Áp huyết một bên tay thấp hơn bình thường, hư chứng một bên.

Tinh : Ăn uống như trường hợp a.

Khí : Bấm huyệt É Phong sau tai bên áp huyết thấp, làm tăng khí huyết bên thấp lên nuôi thần kinh não bộ. Tập 7 bài đầu của khí công. Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần

Thần : Nằm thở thiền, nam tay trái đặt tại mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, bàn tay phải đặt dưới rốn 5cm nơi huyệt Khí Hải Đan Điền Tinh. Nhắm mắt, cuốn lưỡi, ngậm miệng, thở bằng mũi, theo dõi hơi thở ra ở huyệt Mệnh Môn sau lưng, đối xứng với rốn, để điều chỉnh lại áp huyết cho hai bên tay bằng nhau, và đưa khí huyết theo cột sống lên đầu chỉnh thần kinh não bộ.

Trường hợp d : Áp huyết một bên tay cao hơn bình thường, thực chứng một bên.

Tinh : Ăn uống như trường hợp b.

Khí : Châm nặn máu 5 đầu ngón tay ngón chân bên áp huyết cao. Tập Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần. Dậm Chân Phía Trước Phía Sau 5 phút.

Thần : Tập như trường hợp c.

Tất cả 4 trường hợp, nếu áp dụng đúng và đều đặn trong 6 tháng, khi so sánh áp huyết trước khi tập và sau khi tập, biểu đồ áp huyết trong tuần có sự thay đổi từ bất bình thường trở lại bình thường lọt vào tiêu chuẩn là bệnh mau khỏi.

Thân

doducngoc

{tab=Đông y}

Khái niệm theo YHCT

Động kinh là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, được miêu tả thuộc phạm vi chứng điên giản của YHHĐ

Cơn động kinh xảy ra đột ngột, ngã lăn quay, chân  tay co giật , sắc mặt xanh nhạt, 2 hàm răng cắn chặt, ỉa đái không biết, sùi bọt mép thở khò khè, hôn mê, tỉnh dần sau một thời gian ngắn, sau đó bệnh nhân mệt mỏi. Cơn động kinh tái phát nhanh hay chậm tuỳ theo mức độ người bệnh, có những cơn động kinh liên tục là trường hợp phải cấp cứu bằng thuốc và phương tiện YHHĐ

Nguyên nhân gây ra bệnh do di truyền, tình chí bị kích động làm công năng hoạt động của các tạng tâm can tỳ, thận dẫn đến sự mất thăng bằng âm dương, khí nghịch, đàm ủng trệ làm tắc các khiếu, hoả viêm gây ra chứng hôn mê co giật

Động kinh được chi ra làm 2 thể lúc mới đầu bệnh mới mắc thường thuộc thực do phong đàm ủng trệ, sau đó thành hư chứng gây tổn thương nhiều đến thận

Phương pháp chữa: Nếu là thực chứng lấy hoá đàm tức phong làm chính . Nếu là hư chứng bổ tâm thận  làm chính , bổ thận an thần làm chính

1 . Phong đàm ủng trệ:

Triệu chứng: Giống cơn động kinh như đã nêu, mạch hoạt sác, hoặc trước khi phát bệnh hông ngực đầy tức buồn bực, nghiến răng, trợn mắt, chân tay run rật, đờm rãi kéo lên thở khò khè, mạch huyền hoạt

Pháp : Hóa đàm, tức phong khai khiếu

ý dĩ 40 trần bì 20 toàn yết 20
Bchính sâm 20 quế 20 N tinh sao 20 trần mễ 20

Tán nhỏ thành bột ngày 40 g, lại lấy chu xa 2g hấp với tim lợn ăn một tuần 3lần trong 3tuần liền

2 . Tâm thận tỳ hư

Triệu chứng : Mắc bệnh lâu ngày tái pháp nhiều lần khi nên cơn đầu tối sầm lại , ngã , chân tay run miệng kêu, hôn mê, sau khi tỉnh mệt mỏi, chí lực giảm sút, sắc mặt không tươi, lưng gối yếu mỏi, ăn ít , đờm nhiều, rêu mỏng mach tế hoãn

Pháp:  Bổ tâm thận kiện tỳ hoá đàm

thục 12 kỷ 12 B truật 12
đẳng sâm 16 long nhãn 12 thủ ô 12 táo 8
bá tử nhân 8 bán hạ 8 trần bì 6 hà xa 8
linh 8 đan sâm 8 viễn trí 8 thảo 6

Nếu người gầy,hư phiền thêm Mạch môn 8, Sinh địa 12,  Qui bản 8

Châm cứu: Thận du, Tâm du, Tỳ du, Thái xung, Túc tam lý, Phong long, Đại truỳ

3. củng cố

Kết quả chữa bệnh thường chữa tỳ ,thận là chủ yếu, dùng bài Lục vị gia Cúc hoa, Thăng ma,;         Nếu có dấu hiệu sang chấn tinh thần dùng bài Tiêu dao tán gia Cúc hoa, Câu đằng, Chi tử,

Nếu có đờm nhiều, ăn kém, mệt mỏi là tỳ hư có đờm dùng bài Qui tỳ gia Trần bì, Bán hạ, Xương truật,  dùng dài ngày dưới dạng thuốc hoàn tán

châm cứu:thận du , tâm du , tỳ du, thái xung , túc tam lý, phong long, đại truỳ ,

Bài 1 : Thuốc cắt cơn động kinh dùng cấp cứu

định giản hoàn thien ma 12 Bối mẫu 6 Mach môn 12
Vien trí 12 Cg tàm 12 chu xa 6 trần bì 6
Bach phuc linh 12 đởm n tinh 12 B hạ chế 12 đẳng sâm 16
Xuong bồ 8 phục thần 12 hổ phách 8

Tán bột trộn với nước trúc lịch, Gừng, Cam thảo nấu thành cao; trộn , tán thành viên. ngày dùng 4g chia làm2 lần uống, nên uống trước khi lên  cơn

châm cứu: thận du , tâm du , tỳ du, thái xung , túc tam lý, phong long, đại truỳ ,

Bài 2 : Ngưu Hòang Thanh Tâm phiến – Đây là phương gia truyền cấp cứu cực hay và có giá trị rất cao trong điều trị trên lâm sàng – Cắt cơn động kinh nhanh trong 5 phút – Uống trước 30p trước khi có dấu hiệu lên cơn để chặn cơn, sau đó duy trì ngày 2 lần, sáng 1v, chiều 1v – Cổ phương yếu quyết

Thuốc đã làm sẵn thành Viên – ngày uống 2- 3 viên với nước ấm / trẻ em dưới 10t giảm nửa liều

Củng cố kết quả và ổn định bệnh: phối hợp với các phương chữa gốc ở trên – sau 1 năm có thể giảm từ từ và ngưng thuốc khi khỏi bệnh

{/tabs}

benhvathuoc.com