4:38 pm - Tuesday July 29, 2014

Thuốc chữa bệnh bạch tạng

Thuốc chữa bệnh bạch tạng

1. ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC.
Thuốc thường được dùng dưới 2 dạng: toàn thân và tại chỗ. Điều trị bằng thuốc tại chỗ được chỉ định cho các trường hợp tổn thương dưới 20% diện tích cơ thể và nếu thất bại thì chuyển sang thuốc toàn thân. Các dạng thuốc dưới đây thường được dùng trong điều trị bạch biến:
chua benh bach bien

1.1. Corticosteroids: ngoài tác dụng chống viêm, corticoid còn có tác dụng ức chế miễn dịch bằng cách giảm immunoglobulin và bổ thể. Trong bệnh bạch biến, corticoid cho thấy có khả năng làm giảm hiện tượng gây độc tế bào sắc tố do các kháng thể của cơ thể tạo ra. Corticosteroids tại chỗ là chỉ định hàng đầu đối với bạch biến khư trú và khuyến cáo điều trị với bạch biến trên mặt hoặc tổn thương có kích thước nhỏ ở trẻ em. Các loại corticoid nhẹ như Hydrocortisone được chỉ định, tuy nhiên nhóm 3,4 cho thấy có hiệu quả hơn, thậm chí loại mạnh như clobetasol propionate cũng được sử dụng, tuy nhiên phải rất thận trọng, không nên dùng cho trẻ em và không dùng kéo dài quá 2 tháng. Nếu điều trị bằng thuốc tại chỗ trong vòng 3-4 tháng mà không hiệu quả thì không nên tiếp tục. Một giải pháp khác được thấy có hiệu quả là điều trị bằng các thuốc điều hoà miễn dịch (ví dụ: Tacrolimus) sau đó dùng Corticosteroids. Corticosteroids toàn thân như prednisolone liều 0.3-0.5mg/kg/ngày cũng cho thấy hiệu quả, hoặc một số tác giả sử dụng betamethasone, dexamethasone…cũng đạt tỷ lệ thành công trên 7%. 1.2. Các thuốc có tác dụng điều hoà miễn dịch. Tacrolimus dùng tại chỗ (biệt dược Protopic) là thuốc ức chế calcineurin hiện nay đã có trên thị trường Việt nam, chủ yếu được các bác sỹ da liễu chỉ định trong viêm da cơ địa, cho thấy tác dụng ức chế sản xuất các cytokine như IL-4, IL-5, IFN gamma, TNF alpha, IL-10 tại tổn thương bạch biến, đồng thời làm tăng hình thành các tế bào sắc tố, nguyên bào sắc tố, yếu tố tế bào gốc (stem cell factor) in vitro. Tarcrolimus còn có ưu điểm hơn corticosteroids là không gây teo da, dãn mạch vv… pimecrolimus cũng thuộc nhóm này và cũng được sử dụng điều trị bạch biến với hiệu quả nhất định.

1.3. THUỐC KHÁC.
Người ta thấy rằng prostaglandin E (PGE) cũng có vai trò trong việc hình thành các tế bào sắc tố gây ra do tia cực tím. Vì vậy PGE2 được dùng bôi tại chỗ cũng cho thấy hiệu quả trong một số nghiên cứu đối với các trường hợp bạch biến dưới 5% diện tích cơ thể.
Các tế bào sắc tố có các thụ cảm thể đối với vitamin D3. Calcipotriol và taclacitol bôi có tác dụng điều hoà miễn dịch tại chỗ, ảnh hưởng đến quá trình biệt hoá và trưởng thành của tế bào sắc tố, tăng tổng hợp sắc tố. Phối hợp calcipotriol tại chỗ và PUVA cho thấy hiệu quả ở một số nghiên cứu, tuy nhiên sử dụng calcipotriol đơn thuần lại ít có kết quả.
5-Fluorouracil dùng tại chỗ sau khi dùng các phương pháp khác như: mài da, laser YAG cũng cho thấy có hiệu quả trong một số nghiên cứu. Tyrosin dùng tại chỗ hoặc toàn thân, cysteine, vitamin và khoáng chất, clofazimine vv… cũng được thử nghiệm với những kết quả đạt được thất thường và chưa được kiểm chứng.

2. ĐIỀU TRỊ BẠCH BIẾN BẰNG QUANG TRỊ LIỆU:
Tia cực tím (UV) là lựa chọn hàng đầu để điều trị các trường hợp bạch biến lớn hơn khoảng 10 – 20% diện tích. Tia cực tím có tác dụng ức chế hoạt động của tế bào lympho T điều hoà (T-regulatory). Tia cực tím còn có tác dụng kích thích tế bào sắc tố sản xuất hạt sắc tố và di chuyển tới các tế bào da. UVB dải hẹp (NB-UVB: 311nm) không những hạn chế tế bào sắc tố bị tiêu diệt mà còn làm tăng số lượng tế bào sắc tố và có hiệu quả trong điều trị bạch biến hơn UVB phổ rộng.
Ngoài ra cũng có tác giả dùng UVB với bước sóng 300 – 320nm và có những khoảng đỉnh 311nm để điều trị. UVA có bước sóng 320 – 400nm cũng được dùng tuy nhiên thường trong trị liệu kết hợp quang hoá PUVA. NB-UVB thường dùng liều trong khoảng 0.075J/cm2 – 0.25J/cm2, tăng dần liều khoảng 20% cho đến khi đạt liều đỏ da trung bình. Chống chỉ định quang trị liệu với các trường hợp mắc các bệnh nhạy cảm với ánh sáng như lupus đỏ hệ thống, khô da nhiễm sắc, porphyrin…hoặc các trường hợp đang dùng thuốc mẫn cảm với ánh sáng.

3. QUANG HÓA TRỊ LIỆU
PUVA (Psoralen + UVA) có thể dùng psoralen bôi tại chỗ, hoặc đường uống. Với đường uống, psoralen 0.2-0.4mg/kg uống khoảng 1-1,5 tiếng trước khi chiếu UVA 1-2J/cm2. Các vùng khác trên cơ thể phải được che bằng loại vải chống nắng phổ rộng. Không nên dùng phương pháp này với trẻ dưới 12 tuổi. Nếu dùng loại bôi, 8-methoxy-psoralen 0.01 – 0.1% bôi khoảng 15 – 30 phút trước khi chiếu UVA với liều 0.1 – 0.25J/cm2, 3 lần trong tuần. Ngoài ra, để tận dụng nguồn ánh sáng mặt trời, có thể dùng Trimethyl-psoralen 0.3 mg/kg uống trước 2 – 4 h và sau đó phơi nắng khoảng 10-15 phút. Sau tăng dần thêm 5 phút cho đến khi da đỏ nhẹ. Nên tránh thời gian nắng có cường độ mạnh vào buổi trưa. Phenylalamine có tác dụng kích thích tế bào sắc tố di chuyển. Dùng 50mg/kg uống, 30 phút – 1 giờ trước khi chiếu UVA với liều 2-12J/cm2. Chống chỉ định trong các trường hợp suy giản chức năng gan, thận, bệnh ác tính, mang thai và cho con bú. Polypodium leucotomos (PLe) được chiết xuất từ 1 loài dương xỉ Trung Mỹ, có tác dụng điều hoà miễn dịch, ức chế hoạt hoá lympho Th2 và được dùng kết hợp với NB-UVB trong điều trị bạch biến. Khellin là một furochromone trước đây thường được dùng trong điều trị dãn tĩnh mạch tắc nghẽn. Dùng đường uống 50-100mg/kg, 2h trước khi chiếu UVA 5-15J/cm2 tuỳ vào loại da của bệnh nhân. Khellin khi hoạt hoá bởi UVA có tác dụng kích thích tế bào sắc tố phát triển và sản xuất sắc tố.
chua benh bach bien

4. PHẪU THUẬT:
Phương pháp ghép da bình thường vào vùng da tổn thương cũng đạt hiệu quả. Các tế bào sắc tố tại vùng da ghép qua quá trình phát triển có khả năng tạo sắc tố và chuyển tới vùng da mất sắc tố, giúp phục hồi sắc tố giống da bình thường. Mặt khác, phẫu thuật tác động tới các tế bào làm tiết ra các cytokine viêm kích thích tế bào sắc tố tăng cường sản xuất và vận chuyển sắc tố tới các tế bào da. Thường dùng phương pháp này cho các trường hợp tổn thương ở vùng da hở, kích thước nhỏ, ở người lớn và là tổn thương ổn định, không tiến triển. Tuy nhiên phương pháp này đôi khi phải làm nhiều lần mới đạt kết quả mong muốn. Không nên dùng phương pháp này trong các trường hợp sẹo lồi, có tiền sử bị tăng sắc tố sau viêm.

Các phương pháp sau dây thường được sử dụng:
4.1. Dùng tế bào thượng bì không qua nuôi cấy: bao gồm cả keratinocyte và melanocyte, được ly tách bằng Trypsin 0.25%, từ thượng bì của người cho rồi tiêm trực tiếp vào trong tổn thương bọng nước tạo ra do áp nitơ lạnh ở vùng da bạch biến. Phương pháp này có ưu điểm lớn là không để lại sẹo.
4.2. Ghép da mỏng: lấy da với độ dày khoảng 0.1-0.3mm, ghép trực tiếp lên vùng tổn thương. Dùng gạc băng ép nhẹ trong vòng 1 tuần. Phương pháp này cũng hạn chế sẹo, thậm chí không có sẹo.
4.3. Ghép da từng mảnh nhỏ: là phương pháp đơn giản và thường dùng nhất. Dùng punch biopsy đột từng mảnh nhỏ kích thước 1-1.5mm và ghép vào các lỗ tương ứng cách nhau từ 3-4mm trên vùng da mất sắc tố. Băng cố định vùng da ghép trong khoảng 1 tuần. Khi lành, các tế bào sắc tố sẽ phát triển và bò ra vùng da xung quanh. Cần làm test bằng cách ghép 1 mảnh nhỏ trước. Nếu thấy sắc tố phát triển lan ra xung quanh thì mới triển khai làm đồng loạt.
4.4. Ghép thượng bì: da ghép được lấy bằng dụng cụ lấy da áp lực âm, lấy bỏ vùng da tổn thương bằng bào da, laser CO2 siêu xung hoặc nitơ lỏng… ghép da lên và phủ bằng tấm film acetate trong khoảng 5 ngày chứ không băng ép.
5. Các phương pháp khác:
5.1. Laser: laser Helium-neon với năng lượng thấp, bước sóng 632.8nm cho thấy tác dụng tăng kích thích tế bào da và tế bào sợi sản xuất bFGF (basic fibroblast growth factor), và tăng biệt hoá nguyên bào sắc tố. Laser excimer có bước sóng 308nm được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả trong điều trị bạch biến khư trú với thời gian phục hồi sắc tố nhanh hơn dùng NB-UVB.
5.2. Liệu pháp chống oxy hoá: alpha-lipoic acid, vitamins C, E và polyunsaturated fatty acids kết hợp với NB-UVB gần đây cũng được dùng điều trị bệnh bạch biến.
5.3. Làm mất sắc tố (depigmentation): một số trường hợp bạch biến hầu hết toàn thân (universalis) người ta có thể dùng biện pháp tẩy sắc tố ở các vùng da thường để tạo ra tình trạng hoà đồng màu sắc toàn thân giúp cải thiện về mặt thẩm mỹ. Thường dùng Hydroquinoe có chứa monobenzyl ethe 20% bôi 2 lần/ngày trong thời gian 6-12 tháng. Tuy nhiên không dùng phương pháp này với trẻ em và trước khi điều trị cần làm test áp để loại trừ các trường hợp dị ứng. Ngoài ra Laser Q-switched alexandrite, Ruby, YAG… cũng được sử dụng để tẩy sắc tố.
5.4. Cải thiện thẩm mỹ: đây không phải là phương pháp điều trị mà chỉ làm cải thiện về mặt thẩm mỹ bằng cách trang điểm lên các vùng tổn thương giúp cho màu sắc da tại vùng bạch biến trở nên tương đồng với màu da bình thường.
chua benh bach bien

Bảng tóm tắt một số phác đồ điều trị Bạch biến

Mỗi phương pháp đều có những hạn chế và nguy hại nhất định.
Bệnh nhân tuyệt đối không được tự ý sử dụng thuốc mà không có ý kiến của Bác sĩ chuyên khoa.

benhvathuoc.com

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Thuốc chữa bệnh

3 Responses to “Thuốc chữa bệnh bạch tạng”

  1. 12/12/2011 at 4:00 pm #

    Chữa bệnh Bạch biến bằng Hạt tiêu đen và Tảo biển

    A – Thuốc uống Viên nén Spurlnaplatensis ( Có thể dùng Tảo Spirulina loại thực phẩm chức năng có bổ xung dầu da cá ) :
    Collagen da cá *** , Axit Gama Linoleic , Chlorophyll , Carotenoid , Insitol , Phycocianin , Beta -Carotene , Acid Folic , Protionid , AB – Collagen , Mangan, Sắt, Kẽm , Can xi, Magie, Phôt pho , lipid, Vitamin B1-B2-B6-B12-E , Muối khoáng vi lượng …
    B – Thuốc bôi / xức :
    Piperine từ hạt Tiêu đen , Bổ cốt chỉ ( Psorales Corylifolia ) , Hồng tước san hô ( Pedilanthus tihymaloides – L Poit Euphorbia tihymaloides – L ) , Sơn dịch ( Aristilochia indica L – Aristolochiaceae ) , Lam tảo ( Spirrulina ) , Uất kim ( Curcuma ) .
    C – Cách pha chế hỗn hợp dùng bôi / xức :
    Hạt tiêu đen để sống, nghiền nhỏ, lấy 200 gr bột khô cho vào ngâm với 500 ml rượu trắng hoặc cồn 40 độ. Giữ trong lọ tối màu sau 4 ngày sẽ chắt / chiết được dịch Tiêu màu đen như nước Cafe. Bã Tiêu đem bỏ, không dùng lại. Chế dịch Tiêu thu được vào trộn với hỗn hợp bột thuốc sao cho nhuyễn đều. Ủ kín trong lọ sau 8 giờ cho ngấu kỹ, dùng bôi lên vết Bạch biến hàng ngày từ 2-3 lần, cách nhau từ 5-8 giờ. Giữ thuốc trên da sau 1giờ có thể rửa sạch bằng nước. Tránh tiếp xúc hóa chất tẩy rửa, mỹ phẩm. Không bôi / xức lên vùng mắt hoặc vết thương hở.
    Không dùng cho trẻ em dưới 3 tuổi. Dừng bôi thuốc nếu thấy hiện tượng kích ứng mẫn cảm trên da.
    D – Liều lượng dùng uống :
    Liều dùng chung – Uống 03 viên sau mỗi bữa ăn với nhiều nước. Kiêng ăn lòng trắng trứng gia cầm và các chất kich thích. Có thể dùng song song với các loại thuốc trị bệnh khác. Không có tác dụng phụ.
    E – Thời gian điều trị :
    Một liều sử dụng trong 02 tháng.
    Kết quả theo dõi điều trị cho thấy hiệu quả trung bình đạt từ 60 – 65%.
    Có thể dùng thêm liều tăng cường .
    F – Tác dụng :
    Bột thuốc đắp trên vùng da bệnh kich thích hồi phục sắc tố da dàn đều từ giữa ra viền. Giúp cho sắc tố đã hồi phục duy trì bền lâu. Thuốc uống giúp cân bằng hệ miễn dịch, tăng sức đề kháng của cơ thể, hỗ trợ tốt quá trình sản sinh các tế bào mô da, nâng đỡ và bảo vệ các tế bào sắc tố mới hồi phục trước sự tấn công tự miễn của cơ thể.
    Bài thuốc này thường áp dụng cho bệnh nhân mới mắc bệnh và phát hiện sớm hoặc bệnh nhi có lớp da non mạnh khỏe, dễ thấm thuốc, khả năng hấp thu cao. Kém hiệu quả đối với bệnh nhân lâu năm và đã qua nhiều lần bôi xức các loại thuốc ( hóa chất ) khác dẫn tới da bị trơ, bì, kém hấp thu thuốc.

  2. 12/12/2011 at 4:00 pm #

    Cây dương xỉ
    Cây dương xỉ Nam Mỹ ( Ple ) được dùng rộng rãi ở các nước Âu – Mỹ từ trước năm 1930 nhưng mãi đến năm 1970 nó mới được giới Khoa học chính thức công nhận và trở thành sản phẩm thương mại tại Mỹ, Tây Ban Nha… Các thông tin phổ thông hầu hết đều đề cập cách dùng chế phẩm chiết xuất từ Ple theo đường UỐNG. Riêng việc dùng bột lá PLe để bôi ( xức, đắp ) thì chúng tôi mới đang tiến hành THỬ NGHIỆM ở mức độ tự nguyện, tự phát đối với một số bệnh nhân. Kết quả thử nghiệm là thực tế trực quan và chưa có báo cáo hoặc đánh giá khoa học mang tính định lượng. Chúng tôi đang sử dụng bột lá Ple khô bởi vì dễ bảo quản và vận chuyển. Bột lá Ple chúng tôi có được từ 3 nguồn : Thu hái tự nhiên ( Cây mọc hoang ), Thu hoạch ( sau khi gây trồng ) và Gửi mua từ Mỹ. Để nắm rõ hơn thông tin và đảm bảo tính khách quan, xin mời độc giả tìm đọc các tài liệu trích dẫn được liệt kê ở cuối trang này.

    GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC
    Tên Latin : Polypodium leucotomos.
    Các tên khác: Anapsos, Heliocare, Kalawalla, Polypodiaceae, Phlebodium aureum, Calaguala, Kalawalla…
    Mô tả : Cây trưởng thành cao trung bình 90-130cm, rễ chùm, tán rộng khoảng 50cm. Lá khía hình thùy đối xứng, màu lá có thể từ xanh tươi sáng cho đến lục lam, xám nhạt … tùy theo mùa và độ ẩm. Phân bố trong tự nhiên : Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Mỹ. Trải dài từ phía đông của châu lục, mở rộng về phía bắc vào Hoa Kỳ tới Florida và cực phía đông nam của Georgia, phía nam qua vùng biển Caribbean (Bahamas, Puerto Rico , và Lesser Antilles), tới miền bắc và miền đông Nam Mỹ, Paraguay . Nó là loài duy nhất của chi (họ) Phlebodium tìm thấy ở Bắc Mỹ. Thổ dân Maya cổ đại phát hiện ra Polypodium leucotomos đầu tiên tại vùng rừng Honduras và một số rừng nhiệt đới nhiều mưa khác . Chính họ cũng tình cờ phát hiện ra khả năng phục hồi nhanh chóng các vùng da bị tổn thương của loài cây này và đã biết dùng để chữa trị các bệnh rối loạn biểu hiện trên da. Họ còn dùng lá cây để đắp lên da, hoặc để ăn như một thứ thực phẩm.

    Dương xỉ Ple có thể được trồng theo kiểu canh tác hoặc như một loại cây cảnh. Cây dễ sống tại vùng có khí hậu nóng ẩm và nhiều mưa. Cây bị chết chỉ sau 2-3 giờ nếu nhiệt độ xuống thấp hơn 10 độ C. Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành gây trồng thử nghiệm từ tháng 2/2011 tại một số địa phương ở Việt Nam
    Cây Dương xỉ Nam Mỹ – Leucotomos Polypodium đã được chứng minh có khả năng ức chế các yếu tố miễn dịch gọi là cytokine, đặc biệt là các cytokine liên quan đến các bệnh tự miễn. Chiết xuất PLe có khả năng hỗ trợ cân bằng hệ thống miễn dịch, điều hoà miễn dịch, ức chế hoạt hoá lympho Th2 và cho hiệu quả điều trị rất tốt khi dùng kết hợp với NB-UVB trong điều trị bạch biến.

    Khi dùng để đắp hoặc bôi, kem từ bột lá Ple đã cho kết quả rất tốt, tác dụng nhanh, giúp bệnh nhân Bạch biến tin tưởng, lạc quan. Kem từ bột lá PLE đắp lên vết bạch biến chỉ sau một thời gian ngắn đã giúp vùng da bị bạch biến tái tạo lại sắc tố. Đặc biệt là sự sản sinh sắc tố dàn đều, không bị khoanh vùng cục bộ tạo các vệt / mảng chấm sắc tố. Để tránh việc sắc tố quá sẫm màu sau khi đắp lá, cần phải thí nghiệm trên một vùng da rất nhỏ, qua đó tự chọn cho mình thời gian đắp thích hợp và tránh trường hợp dị ứng mẫn cảm ( dù rất hiếm gặp ). Liệu trình thường kéo dài khoảng 4 – 8 tuần kể từ lúc bắt đầu đến khi cho thấy kết quả. Không khuyến khích dùng cho phụ nữ đang mang thai và trẻ em dưới 3 tuổi.
    Ngưng sử dụng và đến hỏi ý kiến Bác sĩ nếu thấy bất kỳ biểu hiện bất thường nào.

  3. 12/12/2011 at 4:04 pm #

    CẢNH BÁO UNG THƯ KHI DÙNG PROTOPIC – Tacrolimus

    Tacrolimus là hoạt chất được chỉ định dùng để ức chế / chống miễn dịch . Liều lượng cao dạng viên nén dùng sau khi phẫu thuật nhằm chống thải ghép các bộ phận được cấy ghép vào nội tạng . Liều lượng thấp ( dưới 0.1% ) với tên gọi phổ biến là Protopic dạng kem hoặc nước – Chỉ định: Protopic 0.03% điều trị chàm thể tạng người lớn & trẻ em ≥ 2t. Protopic 0.1% dùng cho chàm thể tạng người lớn. Thuốc mỡ Protopic có thể sử dụng trên bất cứ phần nào của cơ thể bao gồm cả mặt, cổ & các vùng nếp gấp ngoại trừ lên niêm mạc. Chống chỉ định : Quá mẫn với macrolide, tacrolimus hoặc với thành phần thuốc.
    Thận trọng: Trẻ < 2 tuổi. Suy gan, chứng đỏ da toàn thân. Có thai & cho con bú. Tránh để da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời & tia cực tím. Không bôi cùng với chế phẩm ngoài da khác. Tránh để thuốc tiếp xúc với mắt & niêm mạc. Không băng kín chỗ bôi thuốc. Phản ứng có hại: Cảm giác đau, rát bỏng, ngứa, dị cảm, phát ban, ban đỏ. Tăng nguy cơ viêm nang lông, trứng cá, nhiễm virus Herpes. - Liều lượng : Bôi lớp mỏng lên vùng da bị tổn thương. Trẻ ≥ 2 t. Protopic 0.03% 2 lần/ngày trong 3 tuần, sau đó 1 lần/ngày cho đến khi sạch tổn thương. Người ≥ 16 tuổi Protopic 0,1% 2 lần/ngày cho đến khi sạch tổn thương, nếu tái phát dùng lại Protopic 0,1% 2 lần/ngày. Tuy nhiên , hai loại kem chữa chứng chàm (eczema) từ nay sẽ phải mang hàng chữ lớn cảnh báo về nguy cơ ung thư da, ulympho và những chứng ung thư khác, theo các nhà sản xuất và điều phối của Mỹ ngày 19-1. Hai loại kem này, Elidel của hãng Novartis AG và Protopic của hãng Astellas Pharma, sẽ được bày bán với một “vệt đen” cảnh báo - loại cảnh báo mạnh nhất được dùng tại Mỹ - mười tháng sau khi Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đưa ra lời kêu gọi cảnh báo đầu tiên. FDA nói trong khi mối liên hệ rõ ràng giữa các loại thuốc này và nguy cơ ung thư chưa tìm ra, đã có đủ các báo cáo về ung thư bảo đảm cho sự thay đổi này. Tổng số có 78 trường hợp được báo cáo về cả hai loại sản phẩm này cho tới tháng 10-2005. Ngoài ra, nhãn thuốc cũng bao gồm những thay đổi nêu rõ rằng cả hai loại thuốc chỉ nên dùng sau khi đã thử dùng các loại thuốc khác. Nhãn thuốc cũng nói rõ hai loại kem này không được cho trẻ em dưới hai tuổi sử dụng.(K.NHẬT)

    Melagenina Plus
    (Melagenina + Calcium chloride) là một sản phẩm rượu / cồn ngâm với nhau thai của con người , có một số nghiên cứu cho rằng bôi dịch rượu này có khả năng tăng sinh sản của melanocytes, cũng như đẩy nhanh việc kiến tạo melanin, vì vậy một số phòng khám đã lựa chọn để điều trị bạch biến với mục đích đẩy nhanh việc sinh sản của melanocytes còn lại trong các tế bào thuộc khu vực mất sắc tố của bệnh nhân. Melagenina Plus là một sản phẩm được quảng cáo là có thể đạt được sự cân bằng miễn dịch vì nó tác động kích thích của các sắc tố da, đặc biệt Melagenina được bổ sung canxi thiết yếu như là một hoạt hóa của các quá trình sinh sản tế bào và tổng hợp melanin . An toàn (không có tác dụng phụ) / điều trị bằng MELAGININA PLUS cho phép sử dụng ở cả trẻ em và người lớn, bao gồm cả phụ nữ cao tuổi và mang thai. Tuy nhiên , qua quá trình theo dõi kiểm chứng trên bệnh nhân , cho thấy kết quả điều trị không rõ rệt . Trình bày: Chai thủy tinh 235 ml . Dùng bôi ngoài da . Thành phần: Lipoprotein của nhau thai người hòa tan trong rượu/cồn (89 độ) và Canxi khoáng.
    chua benh bach bien

    VITISKIN Không phải là thuốc chữa Bệnh Bạch biến

    Trình bày / Thành phần : Vitiskin – Gel 10ml – 50ml – Dismutin BT ( SOD 0,5%) – Pantothenate calcium (0,05%) – Zinc Acetate (0,05%) – Copper Acetate (0,05%) – Vitamin B12 (0,015%) Vitiskin là một sản phẩm dưỡng da có tác dụng chống lão hóa, kháng dị ứng được nhà sản xuất ISISPHARMA ( Pháp ) khuyến cáo dùng để bảo vệ làn da trước tia nắng mặt trời và tôn tạo lại làn da đã bị lão hóa . Một số người ưa chuộng màu da nâu đã dùng Vitiskin thay kem chống nắng và phơi nắng để được màu da nâu . Tuy nhiên tác dụng này không được hãng sản xuất khuyến khích . Đặc biệt , ISISPHARMA không có chỉ định nào cho việc dùng VITISKIN để chữa bệnh Bạch biến và họ cũng không hề nhắc tới công năng này của sản phẩm – Mọi quảng cáo , áp dụng Vitiskin cho bệnh Bạch biến chỉ mang tính tự phát và chạy theo lợi nhuận của một số người buôn bán Mỹ phẩm và Dược phẩm. Bệnh nhân Bạch biến có thể vào trang chủ của nhà sản xuất để tìm hiểu thêm để tránh bị tác dụng ngược

    THẬN TRỌNG KHI DÙNG MELADININ

    Meladinin là một loại thuốc gây nhiễm độc ánh nắng. Khi bôi thuốc vào thì tia cực tím từ ánh nắng mặt trời sẽ tác độnglên da làm da đỏ lên rồi chuyển sang màu nâu và sau đó thẫm màu. Đó là kết quả của các tế bào sắc tố được tái tạo lại. Khởi đầu bôi thuốc có nồng độ thấp: 0,01%, sau đó nếu không bị kích ứng thì chuyển sang bôi loại có nồng độ cao hơn: 0,75%. Chỉ có điều bạn phải tuân thủ quy trình điều trị. Bạn bôi thuốc vào buổi sáng, sau 2 giờ thì phơi nắng. Thời gian tốt nhất để phơi nắng là từ 10 – 11 giờ, do đó bạn nên bôi thuốc lúc 8 – 9 giờ. Một ngày chỉ phơi nắng từ 3 – 5 phút. Khi hết thời gian phơi nắng bạn phải che vùng da bị bệnh lại (có thể dùng kem chống nắng) vì nếu tiếp xúc thêm với ánh nắng quá thời gian quy định trên sẽ làm vùng da được bôi thuốc phồng rộp lên như phải bỏng với những phỏng nước, sẩn đỏ trên nền da phù nề. Khi bôi thuốc bạn bôi gọn vào trong rìa tổn thương khoảng 3mm, sau đó thuốc ngấm ra là vừa, không nên bôi trùm cả ra da lành xung quanh vì dễ gây bỏng nắng hoặc rìa tổn thương lại trở nên thẫm màu quá. Thời gian bôi thuốc có thể kéo dài vài tháng cho đến khi sắc tố tái tạo lại. Bỏng nắng trên vùng da bôi meladinin chỉ xảy ra khi bôi thuốc quá nhiều, thời gian phơi nắng quá lâu hoặc do cơ thể bệnh nhân quá mẫn cảm. Bệnh nhân là trẻ em chạy chơi ngoài trời lâu quá mà không ý thức được da vùng bôi thuốc (nhất là ở vùng da hở) lại tiếp tục bị tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong thời gian quá dài so với thời gian thầy thuốc chỉ định hoặc bôi nhiều thuốc quá cũng làm bỏng da. Khi đó bạn phải dừng bôi thuốc meladinin. Dùng các dung dịch đắp ướt như jarish, dung dịch kháng sinh để làm khô tổn thương. Khi tổn thương khô rồi thì có thể bôi một trong các chế phẩm có steroid như: flucinar, gentrisone, diprosone, fobancort… Nếu chiếu được tia laser Helineon phối hợp thì tổn thương sẽ khô nhanh hơn. Khi tổn thương da hết viêm thì thường có một số vùng da thâm do đã được tái tạo sắc tố và thường không để lại sẹo. Khi đã hết viêm hoàn toàn thì bạn có thể bôi lại meladinin với quy trình như đã mô tả ở trên và bôi thăm dò với một diện tích da nhỏ, lượng thuốc ít và chỉ phơi độ 1 – 2 phút một ngày, sau đó phải che vùng da bị bệnh lại. Sau 10 ngày không thấy có dấu hiệu bị bỏng da thì mới bôi hết cả vùng da bệnh tổn thương, tuy nhiên vẫn phải tránh tiếp xúc ánh nắng mặt trời khi đã hết thời gian phơi nắng bằng cách tránh nắng, che lại hoặc dùng kem chống nắng. Khi bôi thuốc không hiệu quả thì có thể uống một đợt thuốc meladinin nhưng phải chú ý bảo vệ mắt khi ra ngoài trời nắng như đeo kính râm vì thuốc có thể làm tổn thương mắt. Thuốc uống phải được chỉ định và theo dõi chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Nhiều trường hợp điều trị mà các vết trắng không khỏi người ta có thể bôi một loại kem có màu giống như màu da của họ để giấu các vết này đi. (TS. Nguyễn Thị Lai)

Viết phản hồi