Tật khúc xạ

Có 2,549 lượt xem

benhvathuoc – Trong những năm gần đây, tỷ lệ tật khúc xạ nói chung, tật cận thị nói riêng ở nước ta cũng như nhiều nước trong khu vực có xu hướng tăng nhiều.

Theo điều tra mới đây của Bệnh viện Mắt Hà Nội , Trung tâm mắt Thành phố Hồ Chí Minh , Trung tâm Mắt Nam Định và một số đơn vị khác thì tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 15-17%, ở Nam Định là 13%, ở các vùng nông thôn khác là 5%. Vì vậy, việc tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa, điều trị tật khúc xạ cho trẻ em là điều quan trọng đang được rất nhiều người quan tâm

1. Tật khúc xạ là gì ?

Ta nhìn thấy mọi vật xung quanh ta vì có ánh sáng phản chiếu từ vật đó. Bản thân vật không phát sáng (trừ khi nó chính là nguồn phát sáng!) do vậy ta không nhìn thấy vật trong bóng tối bởi vì không có ánh sáng phản chiếu từ nó.

Mỗi chùm tia sáng gồm những tia sáng. Các tia sáng có thể đi song song, đi hội tụ hoặc phân kỳ.
Các tia sáng có thể bị phản xạ hoặc bị khuất triết

Sự phản xạ (phản chiếu) ánh sáng xảy ra khi ánh sáng bị phản chiếu từ những mặt phẳng, như mặt gương chẳng hạn.

Quy luật phản xạ ánh sáng ” Góc phản xạ tia sáng thì bằng góc tới của tia sáng đó”

Sự khuất triết ánh sáng là sự thay đổi hướng đi của tia sáng khi tia sáng đó đi qua một môi trường này (như không khí) sang một môi trường khác có chỉ số khuất triết khác nhau (như kính). Chỉ số khuất triết là số đo khả năng bẻ gẫy tia sáng của môi trường đó như thế nào.

Bình thường, để con mắt có thể nhìn thấy rõ vật, các tia sáng phải bị bẻ gãy hay gọi là “bị khuất triết “ khi chúng đi qua các môi trường quang học trong suốt của con mắt như giác mạc và thể thuỷ tinh để hội tụ đúng trên võng mạc là lớp màng thần kinh nằm ở đáy mắt. Mắt như vậy gọi là mắt chính thị (mắt có độ khuất triết bình thường). Võng mạc tiếp nhận hình ảnh của vật được tạo nên bởi các tia sáng này và gửi ảnh ảo đó qua dây thần kinh thị giác lên vỏ não.

Tật khúc xạ có nghĩa là các môi trường quang học (giác mạc, TTT, DK) của con mắt ta khuất triết ánh sáng không đúng, do đó hình ảnh của vật mà ta nhìn thấy bị mờ . Tật khúc xạ bao gồm cận thị, viễn thị, loạn thị và lão thị được coi là những rối loạn về khuất triết của mắt mà không phải là bệnh mắt.

2. Các kiểu khác nhau của tật khúc xạ:

CẬN THỊ

Mắt cận thị là mắt có trục trước sau dài hơn bình thường hoặc có lực khuất triết quá mạnh, do đó các tia sáng sau khi bị khuất triết sẽ hội tụ ở trước võng mạc. Mắt cận thị có thể nhìn rõ các vật ở gần nhưng lại không nhìn rõ các vật ở xa.

Cận thị có thể là do di truyền hoặc mắc phải do mắt phải làm việc ở khoảng cách gần quá nhiều. Cận thị di truyền thường phát hiện ở trẻ em khi chúng từ 8 đến 12 tuổi. Quãng tuổi từ 10 đến 20, khi cơ thể phát triển nhanh chóng thì mắt cũng ngày càng dài ra và cận thị cũng tiến triển nhanh. Từ 20 đến 40 tuổi, thường thì độ cận thị ít thay đổi.

Khi nhìn gần, mắt ta phải điều tiết để nhìn vật cho rõ. Khi đó, thể thuỷ tinh của mắt căng phồng lên để đưa ảnh của vật hội tụ trên võng mạc. Khi nhìn xa, mắt giảm điều tiết, thể thuỷ tinh lại xẹp xuống. Bình thường, khoảng cách thích hợp khi làm việc gần từ mắt đến sách vở hoặc máy vi tính là 33 đến 40 cm. Nếu mắt phải làm việc ở khoảng cách gần liên tục nhiều giờ trong ngày, nhiều ngày liền trong tháng, đặc biệt là trong điều kiện thiếu ánh sáng thì thể thuỷ tinh của mẳt luôn luôn ở trong tình trạng phải điều tiết, luôn bị căng phồng gây nên tình trạng mệt mỏi, căng cứng điều tiết. Nếu mắt không được nghỉ ngơi, đến một lúc nào đó thể thuỷ tinh bị căng cứng không thể xẹp xuống được nữa, lực điều tiết của con mắt luôn duy trì ở mức quá mạnh, lúc đó mắt đã trở thành cận thị. Đó chính là tật cận thị mắc phải hay ta thường gọi là cận thị học đường.

Cận thị không chỉ gây khó khăn cho việc học tập, làm việc mà khi bị cận thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính (mắt nhìn thấy nhiều vật lơ lửng như ruồi bay trước mắt) hoặc bong võng mạc gây mù. Do vậy, người bị cận thị cần đi khám bác sỹ mắt định kỳ để theo dõi các thay đổi ở võng mạc mắt cận. Nếu đã bị bong võng mạc, cần phải được điều trị càng sớm càng tốt bằng phẫu thuật ở các trung tâm nhãn khoa lớn trong nước.

Để chỉnh tật cận thị, ta có thể dùng kính phân kỳ (kính –) hoặc phẫu thuật trên giác mạc. Để phòng cận thị mắc phải, cần chú ý không đọc sách hoặc làm việc bằng mắt ở khoảng cách gần (chơi máy tính , xem ti vi…) liên tục quá lâu, quá nhiều ngày. Tốt nhất cứ sau 1 giờ đọc sách hoặc làm việc với máy tính, cần nghỉ ngơi 5-10 phút bằng cách làm các việc khác không cần dùng mắt ở khoảng cách gần, hoặc xoa nhẹ lên mắt qua da mi nhiều lần. Cần đảm bảo đủ ánh sáng cho các cháu ở bàn học (có đèn bàn) và ánh sáng trên lớp học (bảng cần có đèn chiếu sáng, bảng phải bôi đen viết phấn trắng hoặc bảng trắng viết bút dạ xanh, đen). Tư thế khi ngồi học (ngồi thẳng lưng, ngay ngắn, không cúi sát xuống bàn) cũng cần được các bậc phụ huynh học sinh và các thầy cô giáo chú ý để nhắc nhở các cháu luôn thực hiện đúng.

VIỄN THỊ

Mắt viễn thị là mắt có trục trước sau ngắn hơn bình thường hoặc có lực khuất triết quá yếu, do đó các tia sáng sau khi bị khuất triết sẽ hội tụ ở sau võng mạc, vì vậy ảnh hiện trên võng mạc bị mờ không rõ nét. Mắt viễn thị không thể nhìn rõ các vật ở gần như khi ta đọc sách chẳng hạn. Để cố gắng nhìn rõ vật, mắt viễn thị luôn phải điều tiết để đưa ảnh rơi trên võng mạc. do điìeu tiết liên tục, mắt viễn thị bị mệt mỏi, đau đầu , nhức mát và hay chảy nước mắt.

Giống như cận thị, viễn thị thường do di truyền. Trẻ mới đẻ và trẻ em nhỏ tuổi thường có xu hướng bị viễn thị nhẹ. Khi trẻ lớn lên, con mắt cũng phát triển và trở nên dài hơn, độ viễn thị cũng sẽ giảm dần.

Để chỉnh tật viễn, ta dùng kính hội tụ (kính +) nhằm làm tăng lực khuất triết của mắt.

Độ viễn thị toàn phần = Độ viễn tiềm ẩn+ Độ viễn tuỳ ý + Độ viễn tuyệt đối

Trong đó:

– Độ viễn tiềm ẩn là độ viễn thị có thể dễ dàng điều tiết được, do đó không cần chỉnh kính.

– Độ viễn tuỳ ý là độ viễn có thể điều tiết được hoặc chỉnh được bằng kính hội tụ.

– Độ viễn tuyệt đối là độ viễn không thể điều tiết được mà bắt buộc phải chỉnh bằng kính + thì bệnh nhân mới được thị lực cao nhất

LOẠN THỊ

Giác mạc là một màng collagen trong suốt, rất nhạy cảm nằm phía trước lòng đen của con mắt. Bản chất của nó là một thấu kính hội tụ có công suất lớn tới + 42 Dioptry để khuất triết ánh sáng khi ánh sáng đi qua giác mạc. Giác mạc bình thường hình cầu đều đặn, nhẵn bóng, giống như mặt quả bóng tròn. Khi mắt ta bị loạn thị, một trục nào đó của giác mạc sẽ cong hơn các trục khác, trông giống như quả bóng bầu dục, và các tia sáng đi qua trục đó sẽ hội tụ ở trước võng mạc, trong khi các tia sáng khác đi qua 1 trục ít cong hơn lại hội tụ ở sau võng mạc. Loạn thị cũng có thể do TTT bị nghiêng trong nhãn cầu. Do vậy, ảnh của vật mà mắt ta nhìn thấy sẽ bị méo hình hoặc bị mờ cả khi nhìn xa và nhìn gần. Giống như khi bạn đi vào nhà gương ở công viên, bạn sẽ thấy hình ảnh mình trong gương quá cao, quá béo hoặc quá gầy. Ta cũng có thể bị loạn thị kèm theo cận thị hoặc viễn thị.

Loạn thị có thể là :

– Loạn thị thuận (theo quy tắc) : khi trục khuất triết mạnh hơn là trục đứng 900

– Loạn thị nghịch (không quy tắc) : khi trục khuất triết mạnh hơn là trục ngang 1800

– Loạn thị chéo: khi trục khuất triết mạnh hơn là trục chéo từ 45 đến 1350

Tuỳ theo tính chất , loạn thị có thể chia thành loạn thị đơn thuần (viễn hoặc cận), loạn thị kép(viễn hoặc cận) hoặc loạn thị hỗn hợp (khi 1 trục là cận, còn trục kia lại là viễn)

Để chỉnh tật loạn thị, ta dùng kính trụ để đưa ảnh về hội tụ trên võng mạc theo từng trục bị loạn.

LÃO THỊ

Khi ta còn trẻ, thể thuỷ tinh của mắt còn mềm và rất đàn hồi, dễ dàng thay đổi hình dạng để điều tiết giúp ta có thể nhìn rõ vật cả ở xa và ở gần. Khi ta đã từ 40 tuổi trở lên, thể thuỷ tinh của mắt bắt đầu bị lão hoá và xơ cứng, trở nên kém đàn hồi. Do thể thuỷ tinh không thể dễ dàng thay đổi hình dạng của nó như trước nữa, ta sẽ khó nhìn rõ hơn khi đọc sách. Tình trạng này hoàn toàn không phải là bệnh lý và được gọi là Lão thị. Ta cũng có thể có lão thị kèm theo cận thị, hoặc viễn thị hoặc loạn thị.

Để chỉnh tật lão thị, ta dùng kính hội tụ (kính +) nhằm làm tăng lực khuất triết của mắt.Từ 40 tuối trở đi, có thể đeo kính lão với số kính là +0,5 D. Cứ 5 năm tiếp theo, cần tăng thêm số kính là +0,5 D nữa. Khi chỉnh kính, cần chú ý đến cả độ cận thị hoặc viễn thị đã có trước khi có thêm tật lão thị.

3. Điều chỉnh tật khúc xạ như thế nào?

Để điều chỉnh tật khúc xạ, người ta có thể dùng kính đeo mắt, hoặc kính tiếp xúc (kính áp tròng) hoặc phẫu thuật chỉnh tật khúc xạ. Các phương pháp này nhằm hội tụ các tia sáng lên võng mạc để ảnh của vật có thể hiện rõ, nhằm bổ sung cho các thiếu hụt về hình dạng (quá ngắn, quá dài…) của con mắt có tật khúc xạ.

*Kính đeo mắt:

Đeo kính là phương pháp dễ nhất để chỉnh tật khúc xạ, kể cả cận thị, viễn thị và loạn thị. Đeo kính cũng có thể giúp ta bảo vệ mắt khỏi bụi bậm, các tia sáng có hại như tia cực tím trong ánh sáng mặt trời. Các loại kính đổi màu khi ra ánh sáng hoặc kính được bao phủ một lớp chống tia cực tím có bán ở các hiệu kính lớn. Đeo kính 2 tròng thích hợp để điều chỉnh lão thị, khi nhìn xa ta nhìn qua phần trên của kính và khi đọc sách thì nhìn qua phần dưới của kính. Nếu không cần chỉnh kính khi nhìn xa, bạn cũng có thể chỉ cần đeo kính để đọc sách. Không có phương pháp tập luyện cũng như loại thuốc nào có thể giúp bạn điều chỉnh được lão thị. Bạn sẽ cần phải tăng dần số kính đọc sách khi tuổi càng tăng từ 40 đến 60 vì thể thuỷ tinh của mắt sẽ tiếp tục bị mất tính đàn hồi.

* Kính tiếp xúc:

Hiện nay có nhiều loại kính tiếp xúc cứng và mềm. Kính tiếp xúc có ưu điểm nhẹ, đẹp về mặt thẩm mỹ, có thể thích hợp đối với 1 số nghề nghiệp như diễn viên, vận động viên… Loại tốt nhất đối với từng bệnh nhân tuỳ thuộc vào tật khúc xạ và nghề nghiệp, lối sống của chính bệnh nhân đó, vì vậy bệnh nhân cần thảo luận với bác sỹ nhãn khoa của mình khi quyết định dùng kính tíêp xúc. Tuy nhiên kính tiếp xúc cũng có một số nhược điểm như ;

– Khá đắt (giá khoảng 5 -10 USD/1 cặp) , phải thay thế liên tục sau 2 tuần sử dụng

– Bất tiện, phải tháo ra lau rửa hàng ngày khi đi ngủ hoặc khi đi tắm

– Có thể gây ra biến chứng viêm loét giác mạc, xâm nhập tân mạch vào giác mạc nếu điều kiện vệ sinh môi trường xung quanh không đảm bảo (bụi bậm, ô nhiễm…)

Phẫu thuật chỉnh tật khúc xạ:

Một vài năm gần đây, phẫu thuật bằng tia laser đã được sử dụng để điều chỉnh tật khúc xạ. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy Laser Excimer có thể thực hiện những thao tác phẫu thuật trên giác mạc chính xác đến 0,25 micron để điều chỉnh tật khúc xạ. Mới đây, một phương pháp mới hơn đã được áp dụng là phẫu thuật LASIK (viết tắt chữ Laser in Situ Keratomileusis) có nhiều ưu điểm hơn so với các phẫu thuật điều chỉnh tật khúc xạ bằng Laser khác vì nó thực hiện phẫu thuật dưới một lớp giác mạc phủ trên để bảo vệ. Do đó, phẫu thuật LASIK ít gây tổn thương bề mặt giác mạc hơn, ít nguy cơ thành sẹo và phù đục giác mạc hơn, giảm bớt những khó chịu của bệnh nhân sau phẫu thuật, giảm bớt thuốc điều trị hậu phẫu, và thị lực được phục hồi nhanh chóng hơn thường chỉ trong vòng 1 hoặc vài ngày.

Để chỉnh tật cận thị, các bác sỹ dùng tia laser gọt mỏng bớt một phần giác mạc ở vùng trung tâm, trong khi để chỉnh tật viễn thị, lại cần phải gọt mỏng bớt giác mạc ở vùng xung quanh để phần giác mạc trung tâm dốc hơn. Để chỉnh tật loạn thị, giác mạc cần được phẫu thuật sao cho thành hình cầu đều đặn về các phía. Trong trường hợp này người ta sẽ dùng tia laser lấy đi tổ chức giác mạc ở một trục nhiều hơn so với các trục kia.

Để có thể được phẫu thuật bằng tia laser chỉnh tật khúc xạ, bệnh nhân phải trên 18 tuổi và giác mạc mắt bệnh nhân phải bình thường, đồng thời số kính không tăng trong vòng 12 tháng qua. Nếu bệnh nhân mắc một vài bệnh khác hoặc đang có thai cũng không nên phẫu thuật bằng tia laser vội.

Mục đích của phẫu thuật Laser là để giảm sự phụ thuộc của bệnh nhân vào đôi mắt kính, hay nói cách khác là bệnh nhân có thể bỏ kính hoặc giảm số kính mà vẫn nhìn rõ. Vì vậy, bệnh nhân cần đến tư vấn ở các bác sỹ nhãn khoa nơi có phẫu thuật laser chỉnh tật khúc xạ (Viện Mắt Hà Nội, Bệnh viện mắt TP Hồ Chí Minh), và chính bệnh nhân sẽ là người quyết định cuối cùng có nên mổ bằng Laser hay không sau khi đã bàn bạc với bác sỹ của mình.

Bs Ts Nguyễn Chí Dũng
BVMTW
benhvathuoc