6:24 am - Sunday August 31, 2014

Sốt xuất huyết Dengue

Sốt xuất huyết Dengue (IPA: ['deŋgeɪ], tiếng Việt thường đọc là Đăng-gơ) (dengue fever, DF), Sốt xuất huyết Dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF) và biểu hiện nặng nề nhất của bệnh là Hội chứng sốc Dengue (Dengue Shock Syndrome, DSS) đều được gây nên bởi một trong bốn loại huyết thanh virus gần gũi nhưng lại khác nhau về mặt kháng nguyên là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Virus này thuộc chi Flavivirus. Nhiễm một loại virus có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời nhưng chỉ chống lại chính loại huyết thanh virus đó mà thôi. Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch Dengue có thể mắc bệnh nhiều hơn một lần trong đời.

Sốt Dengue và Sốt xuất huyết Dengue chủ yếu là bệnh ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiễm virus Dengue gây nên triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy từng cá thể. Bệnh có thể chỉ biểu hiện như một hội chứng nhiễm virus không đặc hiệu hoặc bệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong (1). Trong bài này, thuật ngữ Dengue được sử dụng để chỉ chung cho ba thể bệnh nêu trên. Khi nói đến từng thể riêng biệt thì tên chính xác của thể bệnh đó sẽ được sử dụng.

Có thể nói Dengue là một bệnh do virus lây truyền do muỗi thường gặp nhất ở người. Trong những năm gần đây bệnh đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình diện quốc tế. Trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có lưu hành bệnh. Sự lan tràn về mặt địa lý của cả vector truyền bệnh là muỗi và virus đã đưa đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 năm qua cũng như khả năng xuất hiện dịch do nhiều loại huyết thanh khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệt đới (2).

Muỗi vằn là vật trung gian truyền bệnh, đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà. Biểu hiện là xuất huyết da, niêm mạc và trụy tim mạch, dễ đưa đến tử vong nếu điều trị không kịp thời và không đúng mức.

Dịch tễ học
Lịch sử


Những vụ dịch đầu tiên được ghi nhận xảy ra vào những năm từ 1778-1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Sự xuất hiện gần như đồng thời của các vụ dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như vector truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới đã từ hơn 200 năm trước. Trong thời gian này Dengue chỉ được xem là bệnh nhẹ. Một vụ đại dịch Dengue xuất hiện ở Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ II và từ đó lan rộng trên toàn cầu. Cũng ở khu vực Đông Nam Á, Dengue lần đầu tiên được phát hiện ở Philippines vào năm 1950 nhưng đến năm 1970 bệnh đã trở thành nguyên nhân nhập viện và tử vong thường gặp ở trẻ em trong vùng này (1).

Xu hướng

Tỉ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Bệnh này hiện đã trở thành dịch tại trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có dịch lưu hành. Con số này tăng lên gấp hơn 4 lần vào năm 1995. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh. Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễm nhiều loại virus khác nhau cũng ngày càng đáng báo động. Sau đây là một vài con số thống kê khác (3)(4):

* Trong vụ dịch, tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm thường là 40-50% nhưng cũng có thể cao đến 80-90%.
* Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp Sốt xuất huyết Dengue cần nhập viện, phần lớn trong số đó là trẻ em. Tỉ lệ tử vong chung vào khoảng 2,5%.
* Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của Sốt xuất huyết Dengue có thể vượt quá 20%. Với phương thức điều trị tích cực hiện đại, tỉ lệ tử vong có thể thấp hơn 1%.

Muỗi Aedes

Người nhiễm virus Dengue do muỗi cái thuộc giống Aedes đốt. Muỗi Aedes aegypti là vector truyền bệnh chủ yếu ở hầu hết các khu vực bệnh lưu hành. Muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày và chỉ có muỗi cái mới đốt người và truyền bệnh. Khi muỗi cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm virus Dengue, virus này sẽ ủ bệnh trong cơ thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày. Trong khoảng thời gian sống còn lại sau đó, muỗi có nguy cơ truyền bệnh cho người. Khi virus vào cơ thể người, chúng tuần hoàn trong máu từ 2 đến 7 ngày. Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì virus được truyền cho muỗi. Người là ổ chứa virus chính ngoài ra người ta mới phát hiện ở Malaixia có loài khỉ sống ở các khu rừng nhiệt đới cũng mang virus Dengue. Aedes aegypti có nguồn gốc từ châu Phi. Loài muỗi này dần dần lan tràn ra hầu hết các khu vực có khí hậu nhiệt đới đầu tiên là nhờ tàu thuyền và sau đó có thể cả máy bay nữa (5). Ngày nay có hai dưới nhóm của Aedes aegypti là Ae. aegypti queenslandensis, một dạng hoang dã ở châu Phi không phải là vector truyền bệnh chính và Ae. aegypti formosus là muỗi sống ở khu vực đô thị vùng nhiệt đới và là vector truyền bệnh chính. Trong quá khứ, muỗi Aedes aegypti phải nhờ vào các vũng nước mưa để đẻ trứng. Tuy nhiên ngày nay quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ồ ạt đang cung cấp cho muỗi những hồ nước nhân tạo để muỗi đẻ trứng dễ dàng hơn nhiều.

Aedes albopictus trước đây là vector truyền bệnh chính của Dengue và hiện nay vẫn còn là vector quan trọng ở châu Á. Loài muỗi này gần đây đã lan tràn đến khu vực Trung Mỹ, Hoa Kỳ và tại đây muỗi này là vector truyền bệnh quan trọng thứ hai. Trong khi muỗi Ae. aegypti formosus chủ yếu sống ở khu vực đô thị thì muỗi Aedes albopictus lại cư trú chủ yếu ở vùng nông thôn. Muỗi Aedes aegypti không truyền virus cho trứng trong khi muỗi Aedes albopictus thì có khả năng này (5).

Sinh lý bệnh

Nhiễm virus Dengue thường không có biểu hiện rõ ràng. Sốt Dengue cổ điển (thể nhẹ) chủ yếu xuất hiện ở người lần đầu mắc bệnh, chưa có miễn dịch. Sốt xuất huyết Dengue/Hội chứng sốc Dengue (thể nặng) thường xảy ra trong lần nhiễm trùng sau, khi bệnh nhân đã có sẵn miễn dịch chủ động (do đã bị bệnh) hoặc thụ động (do mẹ truyền sang) đối với một loại huyết thanh khác. Bệnh thường biểu hiện nặng đột ngột sau 2 đến 5 ngày (giai đoạn hạ sốt). Các phức hợp kháng nguyên-kháng thể lưu hành trong máu, sự hoạt hóa hệ thống bổ thể và giải phóng các chất hoạt mạch có thể gây nên tăng tính thấm mao mạch đối với huyết tương, xuất huyết và có thể là đông máu nội mạch lan tỏa. Trong quá trình đào thải miễn dịch của các tế bào nhiễm virus, các protease và lymphokine được phóng thích gây hoạt hóa hệ thống bổ thể cũng như các yếu tố tăng tính thấm thành mạch (7).

Miễn dịch tăng cường bệnh: Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng “thể nặng của bệnh là Sốt xuất huyết Dengue/Hội chứng sốc Dengue xảy ra khi một người đã nhiễm bệnh trong quá khứ bởi một loại huyết thanh virus nay lại nhiễm một loại huyết thanh virus khác”. Giả thuyết này được củng cố bởi các ghi nhận lâm sàng rằng Sốt xuất huyết Dengue gặp chủ yếu ở những người đã ít nhất một lần mắc bệnh trước đó và Sốt xuất huyết Dengue xảy ra thường xuyên hơn ở các cư dân trong vùng dịch lưu hành hơn là các du khách mắc bệnh tại nơi này trong cùng thời điểm. Nếu giả thuyết này là đúng hoàn toàn thì việc lưu chuyển các loại huyết thanh virus khác nhau từ vùng này đến vùng khác trên thế giới sẽ ngày càng gây nên tình trạng bệnh nặng nề hơn trong tương lai (5).

Như vậy yếu tố nguy cơ gây bệnh nặng trong Sốt xuất huyết Dengue là người sẵn có kháng thể kháng lại một loại huyết thanh đã gây bệnh trước đó, chủng virus gây bệnh, trẻ nhỏ hơn 12 tuổi, phụ nữ và người Caucasian (1) (4).
Triệu chứng và chẩn đoán
Triệu chứng
* Thời kỳ ủ bệnh: 3 – 6 ngày, một số trường hợp có thể kéo dài đến 15 ngày.

* Sốt Dengue

Triệu chứng thường xuất hiện đột ngột với sốt cao, người mệt mỏi rũ rượi, nhức đầu, đau sau hốc mắt, đau cơ (đau thắt lưng và đôi khi đau chân), thường kèm theo đau họng, buồn nôn, nôn mửa, đau vùng thượng vị và tiêu chảy.

Ở trẻ em, đau họng và đau bụng thường là những triệu chứng nổi trội. Hạ sốt xuất hiện vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 8 thường kèm biểu hiện xuất huyết nhẹ nhàng (chấm xuất huyết dưới da, nốt xuất huyết và chảy máu mũi). Sau khi hạ sốt thường xuất hiện ban dạng dát sẩn đa hình thái, đôi khi gây ngứa, đầu tiên ở thân mình và lan rộng theo hướng ly tâm đến các chi, mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân. Một số trường hợp có thể bệnh có thể tiến triển đến xuất huyết tiêu hóa và sốc. Như vậy biểu hiện xuất huyết không chỉ Sốt xuất huyết Dengue mới có (6).

* Sốt xuất huyết Dengue

Giai đoạn sớm của bệnh không thể phân biệt được với sốt Dengue. Tuy nhiên thường sau từ 2 đến 5 ngày, tức là vào giai đoạn hạ sốt, một số trường hợp nhiễm trùng tiên phát và đa số các nhiễm trùng thứ phát sau khi đã nhiễm một loại huyết thanh khác có biểu hiện hạ tiểu cầu (< 100.000/mm³) và cô đặc máu. Thường thì giảm tiểu cầu xảy ra trước cô đặc máu. Biểu hiện xuất huyết có thể xảy ra hoặc không. Các biểu hiện xuất huyết thường gặp trong Sốt xuất huyết Dengue gồm xuất huyết dưới da tự phát hoặc sau tiêm chích, chảy máu chân răng, chảy máu mũi và xuất huyết tiêu hóa. Lách thường không không lớn. Nếu gan lớn và đau thì đây là những dấu hiệu xấu. Các biểu hiện khác có thể gồm tràn dịch màng phổi, giảm protein máu, bệnh lý não với dịch não tủy bình thường (6).

Tính thấm mao mạch gia tăng, với hậu quả thoát huyết tương ra ngoài khoang dịch kẽ với lượng lớn, là nguyên nhân của tình trạng cô đặc máu. Khi bệnh nhân có đồng thời hai dấu hiệu giảm tiểu cầu và cô đặc máu thì được chẩn đoán là Sốt xuất huyết Dengue và được phân loại theo WHO (6):

Độ I: giảm tiểu cầu kèm cô đặc máu nhưng không có chảy máu tự phát.

Độ II: giảm tiểu cầu và cô đặc máu kèm theo chảy máu tự phát.

Độ III: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, huyết động không ổn định: mạch lăn tăn, huyết áp kẹp (hiệu số huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương < 20 mm Hg), tay chân lạnh, tinh thần lú lẫn.

Độ IV: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, sốc biểu hiện rõ: bệnh nhân không có mạch ngoại biên, huyết áp = 0 mm Hg.

Nếu được điều trị thoát sốc thì bệnh nhân lành bệnh nhanh chóng và rất hiếm có di chứng (6).

Chẩn đoán
Chẩn đoán nguyên nhân là cực kỳ quan trọng và cần thiết nếu xét trên phương diện sức khỏe cộng đồng nhưng lại tỏ ra không cần thiết cho việc thiết lập một chế độ điều trị hỗ trợ sớm cho bệnh nhân. Chẩn đoán Dengue thường dựa vào các yếu tố dịch tễ, biểu hiện lâm sàng như trình bày ở trên cũng như dựa vào các xét nghiệm đơn giản: số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu và hematocrit.

Số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi: Dengue xuất huyết thường có giảm bạch cầu. Trường hợp tăng bạch cầu và tăng bạch cầu trung tính thường là cơ sở để loại trừ Dengue xuất huyết.

Giảm tiểu cầu (< 100.000/mm³): Cần làm số lượng tiểu cầu ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ Sốt xuất huyết Dengue. Tiểu cầu càng giảm, nguy cơ xuất huyết càng cao. Hematocrit: Khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với trị số bình thường trước đó thì bệnh nhân được coi là có cô đặc máu, một tiêu chuẩn chẩn đoán Sốt xuất huyết Dengue. Nếu không biết được giá trị hematocrit bình thường của bệnh nhân thì có thể xem giá trị > 45% là mốc chẩn đoán (6).

Một số xét nghiệm khác nhằm đánh giá mức độ bệnh: điện giải đồ, khí máu, chức năng đông máu, men gan, X quang phổi nhằm phát hiện biến chứng tràn dịch màng phổi (4).

Chẩn đoán nguyên nhân: có thể thể hiện mầm bệnh trong máu và huyết thanh bằng phương pháp phân lập virus, xác định kháng nguyên virus bằng các phương pháp miễn dịch hoặc phát hiện bộ gene của virus bằng kỹ thuật khuyếch đại chuỗi ADN (PCR).

Chẩn đoán huyết thanh học thông qua phương pháp xác định IgM bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn kết enzyme (MAC – ELISA) ở hai mẫu máu bệnh nhân lấy cách nhau 14 ngày. Mẫu máu thứ nhất lấy trước ngày thứ 7 của bệnh cũng có thể có ích trong việc phân lập virus bằng cách cấy vào tế bào của muỗi A. albopictus. Sau đó, việc định danh vi khuẩn có thể thực hiện nhờ xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang sử dụng kháng thể đơn dòng.

Ở bệnh nhân tử vong, chẩn đoán có thể thực hiện bằng phương pháp phân lập virus hoặc xác định kháng nguyên virus (phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp) từ hai mẫu bệnh phẩm (gan, lách, hạch bạch huyết, tuyến ức).

Điều trị
Nguyên tắc chung

Vấn đề mất nước trong Sốt xuất huyết Dengue Không phải Sốt xuất huyết Dengue gây mất nước. Đây là sự nhầm lẩn quá lâu dài. Bệnh dù nặng dù nhẹ không có mất nước trên lâm sàng. Cân nặng không giảm , da không khô, một số tế bào nội tạng đả thừa nước thấy được trên siêu âm. Thường và đa số bệnh nhân Sốt xuất huyết Dengue là đủ và thừa nước, đả đủ nước ngay lúc mới bắt đầu truyền dịch cấp cứu. Vì sao phải truyền dịch cấp cứu sốc Dengue. Vì bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn máu. Tại sao bị giảm thể tích tuần hoàn máu, giảm khoảng 20 đến 30% thế tích . Vì Albumin trong máu thoát quản ra khỏi lòng mạch. Nước bình thường ra vào giữa lòng mạch với các mô và tế bào, nay không trở vào lòng mạch cho đủ nhu cầu, bởi một số lớn Albumin hiện diện ngoài lòng mạch. Có thề nói bệnh siêu vi Dengue gây thoát quản huyết tương, không phải là bệnh mất nước. Đây là điểm mấu chốt, quan trọng để sớm thay đổi tư duy điều trị.
Phân cấp điều trị bệnh nhân
Sau đây là những gợi ý về phân cấp bệnh nhân theo tuyến điều trị trong trường hợp có dịch với lượng bênh nhân tăng cao trong cùng thời điểm. Xin lưu ý đây chỉ là những gợi ý và tuyệt đối không phải là phác đồ điều trị nên không thể áp dụng cho mọi trường hợp (6).

Tiêu chuẩn điều trị tại nhà:

* Tất cả những bệnh nhân Sốt Dengue không có nhu cầu phải truyền dịch tĩnh mạch.
* Bệnh nhân Độ I có khả năng bù dịch bằng đường uống.
* Bệnh nhân Độ II có khả năng bù dịch bằng đường uống và không có chảy máu quan trọng.

Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian ngắn (12 – 24 giờ):

* Tất cả những trường hợp bệnh cần bù dịch qua đường tĩnh mạch.
* Bệnh nhân Độ I và Độ II và không thể điều trị bù dịch bằng đường uống.
* Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II nhưng có đau tức gan và gan lớn.
* Tất cả bệnh nhân độ III.

Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian dài (> 24 giờ):

* Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm nhập viện trong thời gian ngắn không đáp ứng điều trị bù dịch.
* Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II kèm theo nhưng yếu tố cơ địa dễ chuyển thành bệnh nặng (hen phế quản, dị ứng, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…).
* Bệnh nhân Độ II hoặc Độ III và có chảy máu quan trọng.
* Tất cả bệnh nhân Độ IV.

Dự phòng
Vaccine


Lý tưởng nhất là có một vaccine có thể chống lại cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh. Đáng tiếc là một loại huyết thanh như vậy hiện nay vẫn chưa có sẵn. Tuy nhiên đã có một nghiên cứu tại Đại học Mahidol (Thái Lan) với sự cộng tác của WHO, một vaccine chống cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh đã, đang được phát triển và hoàn thiện. Vaccine này tỏ ra an toàn và hiện đang được đưa vào dùng thử nghiệm trên lâm sàng (5). Hiện nay vaccin chống SXH cả 4 typ siêu vi Dengue đang ở pha 2 thử nghiệm lâm sàng.
Kiểm soát vector truyền bệnh
Hiện tại, kiểm soát vector truyền bệnh được xem là phương pháp phòng bệnh duy nhất có hiệu quả (3). Kiểm soát các vector Aedes có thể làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh Dengue. Trong những năm 1950 đến 1960 Tổ chức Y tế Toàn châu Mỹ (Pan American Health Organization) đã thành công trong việc diệt sạch Aedes aegypti ở nhiều vùng thuộc Trung và Nam Mỹ và trong thời gian này, các vụ dịch Dengue rất hiếm ở châu Mỹ. Tuy nhiên sau khi chương trình ngừng lại thì Aedes aegypti và sau đó là Dengue tái xuất hiện.

Phương pháp chính để kiểm soát số luợng muỗi Aedes là giảm thiểu các khu vực có nước đọng, là nơi đẻ trứng của muỗi. Đậy kín các dụng cụ chứa nước, giảm tối đa các vật dụng có thể chứa nước mưa (lốp xe cũ, chén bát cũ…), hay nước sạch như bình bông, bàn cầu trong các phòng trống không có người ở, hầm nước ở các chung cư . Có thể dùng các loại sinh vật trong nước tiêu diệt trứng của muỗi. Trong vụ dịch đôi khi phải cần đến phun thuốc diệt muỗi trên diện rộng.

Cũng giống như tất cả các bệnh lây truyền do arbovirus khác, các phương pháp bảo hộ cá nhân như mặc tất, vớ dài, dùng thuốc xua muỗi, tránh nhưng nơi có mật độ vector truyền bệnh cao. Một điểm đặc biệt là muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày nên việc phòng tránh có khác so với các loại muỗi chỉ hoạt động ban đêm như Anophele và Culex.
benhvathuoc.com

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

8 Responses to “Sốt xuất huyết Dengue”

  1. 07/07/2011 at 10:53 am #

    Bệnh sốt xuất huyết là gì ?

    Sốt xuất huyết là bệnh nhiễm trùng cấp do siêu vi Dengue, muỗi vằn là vật trung gian truyền bệnh, đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà.
    Biểu hiện là xuất huyết da, niêm mạc và trụy tim mạch, dễ đưa đến tử vong nếu điều trị không kịp thời và không đúng mức.

    Những ai dễ mắc bệnh này ? Bệnh thường xảy ra vào mùa và nơi nào ?

    Bệnh này thường xãy ra ở trẻ em tuổi từ 2-9 tuổi, càng lớn càng ít bị. Ðặc biệt trẻ càng bụ bẩm khi mắc bệnh dễ có khuynh hướng diễn tiến nặng.

    Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa mưa, cao điểm vào khoảng tháng 6-10 âm lịch và giảm dần vào các tháng cuối năm.

    Bệnh thường gặp ở những nơi đông dân cư, vệ sinh môi trường kém.

    Biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết ra sao ?

    Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài 2-7 ngày.

    Xuất huyết dưới dạng chấm rải rác trên da hoặc bầm chổ chích, chảy máu cam, ói ra máu.
    Gan to.
    Sốc với mạch nhanh, nhẹ, huyết áp giảm, kẹp, hoặc không đo được, chi lạnh, bứt rứt ..
    Kèm theo một số triệu chứng không đặc hiệu như : chán ăn, đau cơ, đau khớp, đau bụng.

    Chẩn đoán bệnh này bằng cách nào?Chẩn đoán bệnh này dựa vào:

    Triệu chứng của bệnh.

    Xét nghiệm máu có tình trạng cô đặc máu.

    Ðiều trị bệnh sốt xuất huyết như thế nào?

    Khi đã nghĩ tới bệnh sốt xuất huyết thì cần phải đưa người bệnh đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Hiện tại đa số được khuyên là không nên dùng thuốc hạ nhiệt nhóm Salicylates vì có thể gây xuất huyết và làm toan huyết. Thuốc được sử dụng nhiều nhất là paracétamol, lau mát để hạ sốt.Truyền dịch.

    Dưỡng khí.

    Thuốc an thần.

    Hạn chế một số thủ thuật gây chảy máu, đặc biệt là chọc hút ở các tĩnh mạch lớn.Trong trường hợp có tràn dịch màng phổi, gây khó thở, có thể chọc dò thoát dịch để giải quyết tạm thời tình trạng suy hô hấp.Sự theo dõi được tiến hành liên tục cụ thể là : Mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ mỗi 15 – 30 phút một lần hoặc sát hơn, cho đến khi ổn định, lượng dịch truyền, lượng nước tiểu.

    Bệnh sốt xuất huyết được phòng ngừa thế nào ?

    Theo dõi tất cả các trường hợp có sốt. Dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm để chẩn đoán sớm, đồng thời có biện pháp điều trị thích hợp.

    Diệt lăng quăng.

    Dọn dẹp các nơi bùn lầy, nước đọng nhất là các vật chứa nước cặn như chén bể, lon bia, vỏ xe, vỏ chai …

    Các biện pháp khác: Hun khói xua muỗi, diệt lăng quăng bằng cách nuôi cá bảy màu, ngủ mùng, dùng hóa chất ngăn cản muỗi đốt.Hiện vẫn chưa có thuốc chủng ngừa bệnh sốt xuất huyết.

    Do đó việc phòng bệnh bằng các biện pháp trên vẫn còn có hiệu quả.

  2. 07/07/2011 at 10:58 am #

    Nhận biết và xử trí bệnh sốt xuất huyết ở trẻ em

    - Dấu hiệu đầu tiên là trẻ bị sốt trong 7 ngày trở lại. Trẻ không ho, không sổ mũi, không tiêu chảy.

    - Trên người nổi những nốt xuất huyết, thường là ở cánh tay, cẳng chân. Các nốt này tròn, nhỏ như vết muỗi cắn nhưng khác ở chỗ khi căng ra những điểm này không biến mất.

    - Trẻ có thể đau bụng ở hạ sườn phải do gan to lên.

    - Chảy máu cam, nôn hoặc đi ngoài ra máu (đi ngoài phân đen).

    - Nặng hơn trẻ có thể bị truỵ tim mạch (sốc): tay chân lạnh, người lừ đừ, kêu mệt. Triệu chứng này thường xuất hiện vào ngày thứ ba đến ngày thứ năm của đợt sốt.

    Biến chứng

    Sốt xuất huyết là bệnh do virus gây ra, phần lớn tự khỏi. Tuy nhiên, khoảng 1/4 số bệnh nhân có biến chứng sốc, xuất huyết tiêu hoá. Tỷ lệ tử vong ở những người bị biến chứng sốc là 2-3%.

    Xử trí

    Khi phát hiện trẻ bị sốt xuất huyết, gia đình cần:

    - Theo dõi sát.

    - Cho trẻ uống nhiều nước (bất kỳ nước gì mà trẻ thích).

    - Nếu trẻ sốt trên 38,5 độ C thì cho uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol (tuyệt đối không dùng Aspirin vì thuốc này làm tăng nguy cơ chảy máu).

    - Cần đưa trẻ đến viện ngay nếu thấy có dấu hiệu nặng như chảy máu cam, lừ đừ, kêu đau bụng.

    - Nếu nhà xa, cần đưa trẻ đến trạm y tế gần nhất. Tại đây, trẻ có thể được truyền dịch theo phác đồ điều trị của Bộ Y tế và nếu cần sẽ chuyển đến bệnh viện sau

  3. 07/07/2011 at 11:02 am #

    Bệnh sốt xuất huyết khác với bệnh sốt siêu vi như thế nào?

    Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ trẻ bệnh sang trẻ lành.

    Sốt xuất huyết cũng là một dạng bệnh do siêu vi trùng gây ra như một số loại bệnh thường gặp khác (viêm não, viêm màng não, viêm đa khớp, phát ban…). Đây đều là những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong và thường gặp ở trẻ nhỏ. Ngoài ra còn có một dạng bệnh sốt siêu vi khác có thể gây ra trạng thái sốt cấp tính (đột ngột) nhưng lành tính với thời gian ngắn khoảng từ 3 đến 7 ngày.
    Dù những tác động của những loại bệnh này gây ra khác nhau đối với bệnh nhân, nhưng về cơ bản, các bệnh có nguồn gốc do siêu vi trùng gây ra thường làm xuất hiện một số triệu chứng tương tự nhau ở người bệnh:
    - Ban đầu bệnh nhân cảm thấy ớn lạnh, rùng mình. Sau vài giờ thì xuất hiện tình trạng sốt.
    - Người bệnh thường sốt đột ngột, nhiệt độ tăng nhanh có thể tới 39-40 độ C.
    - Có thể xuất hiện tình trạng sốt cao liên tục suốt ngày đêm (thường nhiệt độ tăng cao về trưa, chiều và đêm). Mặc dù sốt nóng và cao từ 39-40 độ C nhưng bệnh nhân vẫn cảm thấy gai lạnh.
    - Đau nhức đầu, chủ yếu hai bên thái dương và sau gáy
    - Cảm giác nhức nóng hai hố mắt
    - Đau mỏi cơ khớp toàn thân, ngại vận động.
    - Ho khan, cảm giác khô rát hầu họng
    - Đôi khi có ít chấm xuất huyết nhỏ dưới da, thường gặp ở mặt trong cánh tay, mặt trong đùi.
    - Tiểu tiện ít hơn so với bình thường, nước tiểu vàng sẫm màu.
    - Thường bị táo bón hoặc tiêu chảy.
    Bệnh thường kéo dài từ 3-7 ngày. Bệnh nhân thường hạ nhiệt từ từ rồi trở lại thân nhiệt bình thường vài ngày sau đó.
    Do có những dấu hiệu giống với các loại bệnh sốt siêu vi khác nên không ít người nhầm lẫn sốt xuất huyết với sốt siêu vi, chỉ dùng thuốc hạ sốt và các biện pháp chăm sóc thông thường (chườm lạnh, lau mát cơ thể bằng khăn nhúng nước ấm…) mà không đến bệnh viện điều trị. Đến khi bệnh trở nặng (thường là vào ngày thứ 6 kể từ khi nhiễm bệnh, kèm theo các dấu hiệu như sốc và xuất huyết dưới da) mới đến bệnh viện điều trị thì đôi khi quá muộn. Vì vậy, việc nhận biết và điều trị kịp thời căn bệnh này là rất cần thiết.

  4. 07/07/2011 at 11:03 am #

    Bệnh sốt xuất huyết và cách phòng ngừa

    Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Hai loại muỗi vằn truyền bệnh có tên khoa học là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó chủ yếu là do Aedes aegypti.

    Bệnh có hai thể (sốt dengue và sốt xuất huyết dengue), xảy ra ở tất cả các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh, xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa.
    Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết:

    - Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.

    - Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội.
    Những ai dễ mắc bệnh này ? Bệnh thường xảy ra vào mùa và nơi nào ?

    Bệnh này thường xãy ra ở trẻ em tuổi từ 2-9 tuổi, càng lớn càng ít bị. Ðặc biệt trẻ càng bụ bẩm khi mắc bệnh dễ có khuynh hướng diễn tiến nặng.

    Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa mưa, cao điểm vào khoảng tháng 6-10 âm lịch và giảm dần vào các tháng cuối năm.

    Bệnh thường gặp ở những nơi đông dân cư, vệ sinh môi trường kém.
    Biểu hiện của bệnh:

    Thể bệnh nhẹ: (thường là thể sốt dengue, chủ yếu bị ở người lớn, khu vực thành thị, những nơi mật độ dân số cao, ít khi dẫn đến tử vong)

    - Sốt cao đột ngột 39 – 40 độ C, kéo dài 2 – 7 ngày, khó hạ sốt.

    - Đau đầu dữ dội ở vùng trán, sau nhãn cầu.

    - Có thể có nổi mẩn, phát ban.

    Thể bệnh nặng: (thường là thể sốt xuất huyết dengue, chủ yếu bị ở trẻ em với tỷ lệ tử vong khá cao (30 – 40%)
    Bao gồm các dấu hiệu trên kèm theo một hoặc nhiều dấu hiệu sau:

    - Dấu hiệu xuất huyết: Chấm xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, vết bầm tím chỗ tiêm, ói ra máu, đi cầu phân đen (do bị xuất huyết nội tạng).

    - Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
    Cần làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết:

    Đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế để khám, điều trị. Nếu bị nhẹ có thể chăm sóc tại nhà bằng cách:

    - Nằm nghỉ ngơi.

    - Cho uống nhiều nước, có thể cho uống dung dịch Oresol, nước trái cây càng tốt. Cho ăn nhẹ: cháo, súp, sữa.

    - Dùng thuốc hạ sốt (uống paracetamol hoặc đặt viên hạ sốt vào hậu môn, không dùng aspirin để hạ sốt), chườm mát.

    - Theo dõi liên tục, nếu thấy có bất kỳ dấu hiệu xuất huyết nào hoặc diễn biến nặng hơn (li bì, bứt rứt, vật vã, chân tay lạnh, đau bụng, nôn nhiều) cần đưa ngay đến bệnh viện.
    Phòng bệnh sốt xuất huyết:

    - Cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, bọ gậy (lăng quăng) và phòng chống muỗi đốt.

    - Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt bọ gậy (lăng quăng) bằng cách:

    Thả cá hoặc mê zô vào tất cả các vật chứa nước trong nhà (bể, giếng, chum, vại, lu, khạp…) để diệt bọ gậy (lăng quăng).

    Thu gom, hủy các vật dụng phế thải xung quanh nhà như chai lọ vỡ, ống bơ, vỏ dừa…, dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến.

    Thay nước, thau rửa chum, vại, lu, khạp hàng tuần.

    Bỏ muối vào bát kê chân chạn (tủ đựng chén bát), cho cát ẩm vào lọ hoa (bình bông).

    - Khi xảy ra dịch cần tăng cường các biện pháp chống dịch, làm giảm nhanh mật độ muỗi trong cộng đồng bằng cách phun hóa chất diệt muỗi vào không gian.

    TH

    Bệnh sốt xuất huyết có thể dẫn đến tử vong trong những trường hợp bệnh nặng mà không được chẩn đoán và điều trị kịp thời hoặc dùng thuốc không theo hướng dẫn của thầy thuốc. Bệnh này sẽ không nguy hiểm nếu bạn biết cách phòng chống và khi nghi ngờ bị mắc bệnh cần phải thăm khám và theo dõi điều trị tại cơ sở y tế. Bệnh sốt xuất huyết do virus gây ra nên không có thuốc đặc trị tiêu diệt virus. Bệnh chỉ có thể phòng được bằng cách diệt muỗi và tránh muỗi đốt.

  5. 07/07/2011 at 11:04 am #

    Cách chăm sóc trẻ sốt xuất huyết tại nhà

    Những ứng xử theo kinh nghiệm dân gian hoặc tuỳ tiện trong chăm sóc trẻ sốt xuất huyết tại nhà có thể dẫn đến những nguy hiểm cho tính mạng của trẻ.

    Hiện bệnh sốt xuất huyết chưa có thuốc đặc trị nên việc chăm sóc và dinh dưỡng hợp lý tại nhà được coi là phương thức quan trọng nhằm nâng cao kết quả điều trị, giảm nguy cơ diễn tiến nặng, đồng thời giúp trẻ sớm hồi phục.

    Cách chăm sóc trẻ sốt xuất huyết tại nhà
    Dấu hiệu phát hiện trẻ bệnh

    Sốt xuất huyết là bệnh sốt gây ra bởi siêu vi trùng Dengue nên có tên gọi đầy đủ là sốt xuất huyết Dengue. Đây là bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ em, truyền từ người bệnh sang người lành, qua vết đốt của muỗi vằn. Bệnh hay gặp vào mùa mưa, bắt đầu với ba dấu hiệu: sốt đột ngột, sốt cao, sốt liên tục. Kèm theo sốt, nhiều trẻ còn phát ban, đau bụng, ói mửa,… Thể điển hình sau khi bị muỗi đốt từ 2 – 7 ngày, trẻ đột ngột sốt, nhiệt độ cơ thể lên đến 39,5oC hoặc cao hơn 41oC.

    Triệu chứng xuất huyết biểu hiện bằng những chấm xuất huyết ở da, dạng nhỏ li ti, khi căng da vẫn còn, thường xảy ra sau khi bắt đầu sốt một vài ngày với nhiều hình thức: nôn ói ra máu, tiêu ra máu, chảy máu cam, chảy máu dưới da,… Cần lưu ý, xuất huyết không phải là dấu hiệu bắt buộc của bệnh, bởi có trẻ tuy mang bệnh này nhưng lại hoàn toàn không có triệu chứng xuất huyết. Và dù có hoặc không triệu chứng xuất huyết thì bệnh vẫn có thể dẫn tới một biến chứng vô cùng nguy hiểm, có thể khiến trẻ tử vong, đó là sốc (một hội chứng gồm ba tình trạng suy giảm: giảm tri giác, giảm nhiệt độ, giảm huyết áp).
    Hạ sốt đúng cách

    Trẻ bệnh cần nghỉ ngơi, chơi, ngủ ở nơi thoáng mát, không chạy nhảy nhiều. Tránh dùng quần áo quá dày, hoặc ủ kín. Trẻ đang sốt cần theo dõi nhiệt độ thường xuyên mỗi ngày hai lần vào sáng, chiều và mỗi khi sốt đột ngột. Sau khi uống thuốc hạ sốt một giờ, cần đo lại nhiệt độ. Quan sát các dấu hiệu chảy máu, lượng nước tiểu, các biểu hiện bất thường, tình trạng ăn uống, chơi của trẻ. Khi hạ sốt từ ngày thứ ba trở đi phải theo dõi kỹ hơn. Nếu trẻ vẫn chơi bình thường, ăn uống được là đang hồi phục. Ngược lại, trẻ chơi kém, lừ đừ, than đau bụng nhiều hay có bất kỳ dấu hiệu trở nặng nào khác cũng cần đưa đi khám ngay.

    Việc dùng thuốc phải đúng chỉ định bác sĩ. Thường các bác sĩ sẽ cho trẻ uống thuốc hạ sốt Paracetamol (10 – 15mg/kg). Đặc biệt, tránh cho trẻ dùng các thuốc nhóm Aspirine vì các loại thuốc Aspirine có thể làm tăng nguy cơ chảy máu và gây một số tai biến khác. Đã có trẻ tử vong do người nhà thiếu hiểu biết, tự ý cho dùng Aspirine. Khi trẻ sốt cao trên 40oC dùng thêm những phương pháp hạ nhiệt vật lý như lau mát, nằm phòng lạnh, để quạt, uống nước lạnh. Lau mát bằng nước ấm hoặc nước thường trong vòng 20 phút lên đầu, lên trán trẻ; đắp khăn ướt ở những vùng có mạch máu lớn nằm sát da như nách, bẹn…
    Đảm bảo trẻ ăn đủ chất

    Sự chịu đựng nhiệt độ trên 39oC trong thời gian dài sẽ dẫn đến trẻ bị mất nước và các chất điện giải kèm theo, dẫn đến rối loạn thần kinh, thậm chí co giật. Vì vậy cho trẻ uống nước đầy đủ là điều rất cần thiết. Có thể cho trẻ uống Oresol (chất thường dùng để bù nước trong bệnh tiêu chảy) hoặc uống nước cam, chanh, nước khoáng, nước lọc đun sôi…

    Khi mắc bệnh, trẻ thường có triệu chứng ói mửa, miệng lạt không chịu ăn, dẫn đến không ăn đủ lượng thức ăn cần thiết nên dễ bị hạ đường huyết. Để đảm bảo cho trẻ ăn đủ chất, cần tiếp tục cho trẻ ăn các thức ăn hàng ngày, dễ tiêu, đầy đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng cơ thể. Nếu trẻ bị nôn ói, giảm số lượng thức ăn mỗi bữa, phải cho ăn thành nhiều bữa, ăn từ từ, tránh đầy bụng gây nôn ói. Tránh thức ăn nhiều mỡ. Ăn nhiều hơn vào buổi sáng cũng giúp trẻ dễ chịu. Nếu trẻ chán ăn nên chọn thức ăn lỏng như cháo, hủ tiếu, bánh canh…; thức ăn trẻ ưa thích, hợp khẩu vị để ăn được nhiều. Dùng thêm sữa để cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho trẻ.
    Những ứng xử sai lầm

    * ­­Cắt lể theo kinh nghiệm dân gian: cách này không những không hạ được sốt mà còn gây chảy máu khó cầm, dẫn đến mất máu.
    * Cho trẻ cữ nước, tránh gió: làm tình trạng mất nước của trẻ nặng hơn.
    * Tự ý tăng liều thuốc hạ sốt, số lần uống: gây hại thêm cho gan, ngộ độc.
    * Kiêng ăn, cữ uống: khiến trẻ càng suy nhược, mất nước.
    * Khi trẻ hạ sốt cho rằng trẻ đã khỏi bệnh nên không theo dõi nữa: điều này dễ dẫn đến nguy cơ bỏ qua, không phát hiện kịp thời dấu hiệu trở nặng của bệnh.

    ThS.BS Trần Thị Ngọc Vân – Giảng viên đại học y dược TP.HCM

  6. 07/07/2011 at 11:05 am #

    Sốt xuất huyết có lây không?

    Sốt xuất huyết chỉ lây qua đường muỗi chích, ngồi chung bàn không lây được. Chỉ có những trẻ bị sốt cao 2-3 ngày không giảm mới nghĩ đến bệnh sốt xuất huyết, không sốt như con bạn thì không cần nghĩ đến bệnh này. Con bạn vẫn có thể bị sốt xuất huyết nếu như nhà bạn có muỗi lây truyền bệnh. Để phòng ngừa, bạn nên diệt bọ gậy, muỗi, nếu không có muỗi hay bọ gậy thì không có bệnh sốt xuất huyết.

  7. 07/07/2011 at 11:21 am #

    Những thiếu sót khi dùng thuốc chữa sốt xuất huyết

    Do chưa hiểu đầy đủ sinh lý bệnh sốt xuát huyết , nên việc dùng thuốc ở tuyên dưới đặc biệt là tại nhà có những thiếu sót, cần được khắc phục.

    Những điều cần biết về bệnh:

    Virus Dengue (Đăngơ), có thể gây ra sốt xuất huyết không có sốc, hoặc sốt xuất huyết có sốc.

    Sốt xuất huyết có sốc có 3 biểu hiện: Giãn mạch làm cho huyết tương thoát ra ngoài thành mạch dẫn đến máu bị cô đặc, giảm lượng máu lưu thông, gây sốc. Rối loạn đông máu biểu hiện ở ba điểm: biến đổi thành mạch, hạ tiểu cầu, rối loạn đông máu. Hệ thống bổ thể và làm giảm C3- C5 huyết thanh bị kích hoạt.

    Sốt xuất huyết không sốc: Sự giãn mạch chỉ ở mức độ nhẹ, lượng huyết tương thoát ra ngoài thành mạch ít nên không gây sốc.

    sxh.jpgVirut Đăngơ có cách phát triển trong cơ thể khác thường: Virut ( kháng nguyên) có ái tính với tế bào đơn nhân- đại thực bào. Kháng thể (do cơ thể sinh ra) không ngăn cản virut hoạt động, trái lại làm cho virut phát triển nhanh hơn.

    Có thể giải thích cơ chế của các hiện tượng trên: Thoạt đầu, kháng thể làm cho virut gắn với tế bào đơn nhân – đại thực bào thành một tổ hợp. Sau đó, các tế bào lympho tấn công vào tổ hợp này, phá hủy các tế bào đơn nhân-đại thực bào nên lại giải phóng ra virut và chất gây giãn mạch, tromboplastin bạch cầu, chất hoạt hóa C3. Chất C3 lại hoạt hóa thành chất kích thích tế bào đơn nhân- đại thực bào, rồi lặp lại chu trình trên. Như vậy, kháng thể không chặn được virut, chất gây giãn mạch thì được tiết ra liên tục.

    Nắm vững bệnh sinh mới dùng thuốc đúng, hiệu quả

    Một số điều cần chú ý khi dùng thuốc.

    Dùng thuốc hạ sốt:

    Chỉ dùng paracetamol với liều mỗi lần 15 mg/ kg thể trọng. Không dùng aspirin vì aspirin ngăn tập kết tiểu cầu, chống đông máu, làm cho việc xuất huyết không cầm được, sự rối loạn đông máu càng trầm trọng hơn. Tất cả các kháng viêm không steroid đều có tác dụng không lợi này (tuy mức độ khác với aspirin). Có một số biệt dược kép chữa cảm cúm, làm giảm đau có chứa kháng viêm không steroid (ibuprofen, diclofenac). Khi mới nhiễm Đăngơ, chưa có sự xuất huyết ngay mà có biểu hiện giống như cảm cúm (sốt, đau cơ, đau khớp). Nếu nhầm bệnh, dùng loại biệt dược kép này thì nguy hiểm như dùng aspirin.

    Dùng dịch truyền:

    Chọn dịch truyền:

    Huyết tương thoát ra ngoài, thể tích máu trong lòng mạch giảm, sốt cao gây mất nước làm tăng thêm sự giảm sút này, máu cô đặc lại, huyết áp hạ, nhịp tim nhanh, nên cần phải truyền dịch. Sự mất dịch này chủ yếu là mất nước, ít mất natri. Cần chọn loại dịch chứa ít natri. Tốt nhất là dung dịch Ringer lactate. Nếu không có thì dùng dung dịch natri chlorid đẳng trương (0,9%), glucose đẳng trương ( 5%). Chỉ khi rất nặng (cấp cứu ở bệnh viện) mà truyền các dung dịch này huyết áp vẫn không hồi phục, thì mới chuyển sang truyền các dung dịch cao phân tử.

    Khi mắc sốt xuất huyết, người bệnh rất nhạy cảm, dễ bị sốc phản vệ. Cần ưu tiên dùng loại uống (ở độ I, đầu độ II), khi cần mới truyền (cuối độ II và II). Theo Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) nếu cho 100% người dùng Oresol (ORS) ngay khi nhập viện, thì số người còn lại cần truyền dịch chỉ khoảng 15%. Cần có dụng cụ đo lường (dung tích 1000ml) đủ nước (đun sôi, để nguội) để khi hòa 01 gói ORS vào vừa đủ 1000ml sẽ có dung dịch ORS đẳng trương. Nếu không, người bệnh sẽ cho cả gói ORS vào bát ăn (chỉ 300ml) cho từng ít nước vào, gạn ra uống; hoặc pha bột ORS vào nước khoáng ( đã có sẵn muối); cách pha sai này sẽ tạo ra dung dịch ORS ưu trương, uống dung dịch ưu trương sẽ bị khát, lại uống tiếp nên quá liều, sẽ bị nhiễm độc do thừa muối.

    Liều lượng, tốc độ truyền:

    Liều lượng: Thận trọng trẻ lúc chưa mắc bệnh (P1), khi bị mắc bệnh, mất dịch (P2) thì lượng dịch bị mất cần bù là P2- P1. Cần bù đủ trong 24 giờ (8 giờ đầu bằng 50%, 16 giờ sau là 50%) lượng dich bị mất…

    Tốc độ truyền: Từ lượng dịch cần bù, tính ra tốc độ truyền bằng ml/giờ. Tốc độ tính bằng ml/giờ, chia ra lam 3 lần thì bằng tốc độ tính bằng giọt/phút.. Ví dụ: tốc độ 100ml/giờ bằng với tốc độ 33 giọt /phút. Qui ra tốc độ tính bằng giọt/ phút dễ theo dõi hơn.

    Khi nhập viện, thận trọng chỉ có số đo P2 ít khi có số đo P1. Theo kinh nghiệm, trên trẻ em Việt Nam, người ta đưa ra một cách tính liều bù dịch theo thận trọng P2 (tính bằng ml/kg/ 24 giờ) lần lượt vào các ngày thứ 1-2-3 như sau: Trẻ 7kg liều (220-165-132) ; Trẻ 8 kg- 11 kg, liều (165-132-88); Trẻ 12-18 kg liều (132-88-88); Trẻ 18 kg l liều (88-88-88) ml/ kg/24 giờ. Dựa vào chuẩn này, tính được liều bù dịch trong 24 giờ ứng với từng cân nặng cụ thể.

    Tương tự, liều bù dịch cho người lớn: Ở độ II, ở giờ đầu là 6-7ml/kg/giờ; ở giờ thứ 2 -3 là 5ml/kg/giờ; ở giờ thứ 4-5 là 3ml/kg/giờ. Ở độ III, thì truyền với tốc độ nhanh hơn, ứng với các khoảng thời gian trên là lần lượt các liều: 15-20ml/kg/giờ-10ml/ kg/ giờ và 7,5ml/kg/ giờ. Tính ra với độ II, người nặng 50 kg thì lượng dịch truyền tương ứng với các thời gian trên sẽ là là 350ml+ 500ml+300ml tổng cộng trong 5 giờ là 1150ml.

    Truyền thừa dịch sẽ gây rối loạn cân bằng muối nước, rõ nhất là ứ đọng nước trong các mô, tổ chức (như tràn dịch màng phổi).

    Truyền với tốc độ cao (trong 1giờ làm thay đổi nồng độ natri máu quá 1 mEq/ lít). Thì làm cho lượng natri tăng quá nhanh, gây ra sự quá liều tức thời, không có lợi.

    Thiếu sót trong truyền dịch (đặc biệt ở tuyến dưới, ở nhà) là truyền thừa dịch, truyền tốc độ cao, một phần do tính toán, nhưng phần lớn hơn là thiếu theo dõi điều chỉnh tốc độ và ngừng truyền đúng lúc.

    Có cần dùng kháng sinh?

    Kháng sinh chỉ làm suy yếu virut rồi cơ thể sinh ra kháng thể diệt virut (qua con đường thực bào). Như nói trên, với Đăngơ, thì kháng thể lại không ngăn cản virut mà còn làm virut phát triển. Hiện cũng chưa có kháng sinh đặc hiệu với Đăngơ. Do đó, không thể dùng kháng sinh chữa sốt xuất huyết. Trong sốt xuất huyết, máu bị cô đặc, nếu dùng kháng sinh bao vây thì nồng độ của kháng sinh trong máu sẽ cao và tính độc của kháng sinh cũng sẽ cao hơn nhiều lần ngay ở liều bình thường. Do thế không nên tự ý dùng kháng sinh bao vây. Nếu trường hợp đặc biệt, vừa bị sốt xuất huyết vừa bị cúm (như A/H1N1chẳng hạn) thì thầy thuốc sẽ có điều chỉnh thích hợp trong việc chữa bệnh.

    DS. Bùi Văn Uy

  8. 18/07/2011 at 3:18 pm #

    Cúm là một dạng bệnh truyền nhiễm do virus có khả năng lây lan cao qua đường hô hấp. Mặc dù cúm ảnh hưởng đến cả hai giới và tất cả các nhóm tuổi, trẻ em thường có khuynh hướng dễ mắc bệnh hơn người lớn.

    Bệnh này thậm chí có cả mùa của nó: từ tháng 11 đến tháng 4, với đa số trường hợp xảy ra từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 3.

    Triệu chứng của bệnh cúm

    Bệnh cúm thường bị nhầm lẫn với bệnh cảm thông thường, nhưng các triệu chứng của cúm thường có chiều hướng phát triển nhanh (thường 1-4 ngày sau khi bệnh nhân nhiễm phải virus cúm) và thường nghiêm trọng hơn so với triệu chứng hắt hơi và nghẹt mũi đặc trưng của bệnh cảm.

    Các triệu chứng của cúm có thể gồm:

    - Sốt
    - Ớn lạnh
    - Nhức đầu
    - Nhức cơ
    - Chóng mặt
    - Mất cảm giác thèm ăn
    - Mệt mỏi
    - Ho
    - Đau họng
    - Chảy mũi
    - Buồn nôn hoặc nôn
    - Yếu ớt
    - Nhiễm trùng tai
    - Tiêu chảy

    Bệnh kéo dài bao lâu?

    Sau 5 ngày, sốt và các triệu chứng khác thường biến mất, nhưng ho và yếu ớt có thể vẫn tiếp tục. Tất cả các triệu chứng thường hết trong vòng 1 hoặc 2 tuần. Tuy nhiên, điều quan trọng là việc điều trị bệnh, do nó có thể dẫn tới viêm phổi và các biến chứng nguy hiểm khác, đặc biệt ở trẻ sơ sinh, người già và những người có vấn đề về sức khoẻ trong thời gian dài.

    Bệnh lây lan như thế nào?

    Bệnh cúm lây lan qua những giọt chất dịch tiết ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi vào không khí. Những người nhiễm bệnh có khả năng lây bệnh khi họ có các triệu chứng bệnh (khoảng 1 tuần ở người lớn và 2 tuần ở trẻ nhỏ).

    Bệnh cúm thường xảy ra ở phạm vi vài ổ dịch nhỏ, nhưng các đợt dịch lớn có khuynh hướng xảy ra sau mỗi vài năm. Các đợt dịch (khi bệnh lây lan nhanh và ảnh hưởng đến nhiều người tại một khu vực trong cùng thời điểm) xảy ra cao điểm trong vòng 2 hoặc 3 tuần sau khi những ca bệnh đầu tiên xuất hiện và sau đó bắt đầu giảm dần.

    Vaccine ngừa cúm

    Việc vaccine ngừa cúm thường được tiến hành từ tháng 9 đến giữa tháng 11 (mặc dù việc vaccine này có thể thực hiện vào các thời điểm khác trong năm). Tiêm vaccine giúp giảm nguy cơ mắc bệnh cho một người đến 80% vào mùa bệnh.

    Tuy nhiên do vaccine ngừa cúm ngăn ngừa sự nhiễm của chỉ một vài virus có thể gây ra các triệu chứng giống cúm nên việc tiêm vaccine này cũng không đảm bảo bạn và gia đình không mắc bệnh vào mùa cúm, song nó giúp bệnh nhân giảm bớt số các triệu chứng và các triệu chứng cũng nhẹ hơn so với người không tiêm vaccine.

    Tuy nhiên bạn nên lưu ý rằng việc tiêm vaccine ngừa cúm cho trẻ từ năm ngoái sẽ không có tác dụng bảo vệ trẻ trong mùa cúm năm nay, bởi khi đó vaccine đã hết hiệu lực và vì virus cúm luôn biến đổi hàng năm. Điều này cũng giải thích vì sao vaccine cúm luôn được hiện đại hóa mỗi năm, bao gồm cả các chủng virus mới nhất.

    Các chuyên gia cũng đưa ra khuyến cáo nên tiêm vaccine đối với nhóm có nguy cơ cao xảy ra biến chứng liên quan đến cúm:

    Trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi

    Người trên 50 tuổi

    Phụ nữ mang thai trong mùa cúm

    Những người cần thường xuyên chăm sóc trong thời gian dài, chẳng hạn như những người ở nơi an dưỡng

    Người lớn hay trẻ em mắc các bệnh mạn tính, ví dụ hen suyễn

    Các nhân viên y tế có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh

    Trẻ từ 6 tháng đến 18 tuổi cần dùng aspirin trong thời gian dài

    Những người tiếp xúc với nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao

    Nhóm đối tượng không nên tiêm vaccine:

    Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi

    Những người dị ứng với trứng và các sản phẩm từ trứng – do các thành phần của vaccine ngừa cúm được chiết xuất từ trứng. Nếu con bạn bị dị ứng với trứng hoặc các sản phẩm từ trứng, hãy báo với bác sĩ.

    Những người đã từng có phản ứng xấu đối với vaccine cúm

    Những người mắc hội chứng GBS – một tình trạng sức khoẻ hiếm gặp ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và hệ thần kinh

    Những người đang bị sốt

    TƯỜNG VY (Theo KidsHealth)

Viết phản hồi