Sơ cứu cơ bản P2

Có 1,784 lượt xem

SƠ CỨU CƠ BẢN P2

{tab=Bài 11}

SỐC
Sốc là một dấu hiệu xấu và nặng của cơ thể khi tim ngừng bơm làm áp suất máu lưu thông trong cơ thể giảm hoặc khi lượng chất lỏng tuần hoàn trong cơ thể giảm đi.

Nguyên nhân:

Đau đớn dữ dội như khi bị dập nát xương và da thịt, gãy xương đùi, vết thương ngực, bụng lớn, bỏng rộng, vùi lấp…
Mất nhiều máu
Điện giật

Có một số hoàn cảnh thuận lợi làm cho sốc dễ xuất hiện như đói khát, mệt mỏi kéo dài, sợ hãi, xúc động, căng thẳng tinh thần…
Ngoài ra còn có loại sốc phản vệ do cơ địa dị ứng của một số người với thuốc, thức ăn, côn trùng đốt…
Triệu chứng:
Sốc có thể xuất hiện sớm, sau khi bị tai nạn hoặc muộn, nhiều giờ sau. Các triệu chứng thể hiện khác nhau, tùy giai đoạn.

Giai đoạn đầu ( giai đoạn kích thích)

Da tái nhợt, nhớp nháp mồ hôi
Nạn nhân trở nên lo lắng, vật vã, ngáp, rét lạnh
Thở nhanh, thở nông và yếu
Khát nước, mệt và nôn

Giai đoạn sau (giai đoạn suy nhược):

Nạn nhân chuyển sang trạng thái lờ đờ, nằm lịm, không giẫy giụa, phản ứng yếu.
Mạch nhỏ, yếu, nhanh, huyết áp hạ
Đồng tử mắt có thể bị giãn. Tình trạng này kéo dài thêm nạn nhân sẽ chết.

Sơ cứu cấp cứu:

Sốc là biến chứng nguy hiểm khi bị tai nạn nặng, sơ cấp cứu chậm có nguy cơ làm nạn nhân chết. Nên gọi ngay sự giúp đỡ của đội cấp cứu y tế.

Nhanh chóng:

Đưa nạn nhân ra khỏi nơi nguy hiểm hoặc loại trừ vật gây sốc( như dây điện) khỏi người nạn nhân.
Động viên, an ủi nạn nhân khi họ còn tỉnh, để họ bớt lo sợ.
Sơ cứu nguyên nhân gây sốc mà bạn tìm thấy, thí dụ cầm máu, cố định gãy xương
Đặt nạn nhân nằm xuống, đầu để thấp
Nâng và giữ chân nạn nhân cao hơn đầu. Cẩn thận khi bạn nghi ngờ có gãy xương.
Nới rộng quần áo, thắt lưng, ca – vát
Giữ ấm nạn nhân bằng đắp chăn ( mền) hoặc áo quần
Tuyệt đối không được cho nạn nhân bị sốc ăn, uống, kể cả rượu. Nếu họ kêu khát thì dùng nước thấm ướt môi mà thôi

Dự phòng sốc:

Trong lao động phải tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật an toàn lao động, sử dụng các phương tiện phòng hộ lao động để không xẩy ra tai nạn nghiêm trọng.
Một nạn nhân có dấu hiệu bị sốc cần được chuyển ngay đến nơi có sự giúp đỡ chuyên môn của y tế hoặc gọi ngay đội cấp cứu y tế.

{tab=Bài 12}

SƠ CỨU VẾT THƯƠNG NGỰC, BỤNG
I.Mục tiêu:
– Nhận biết dấu hiệu vêt thương ngực bụng.
– Thực hiện xử lý ban đầu và gửi kịp thời về tuyến sau cứu chữa.

II. Nội dung:
1.Vết thương ngực:
Phân loại, dấu hiệu của vết thương ngực: vết thương ngực được chia 2 loại:
+ Vết thương thành ngực đơn thuần: Tổn thương chỉ ở thành ngực, giống như các vết thương phần mềm khác. Vết thương có thể giập nát hoặc gọn. Toàn thân ít ảnh.
+ Vết thương ngực – phổi: Vết thương xuyên thủng thành ngực, làm khoang màng phổi thông với bên ngoài. Sau khi bị thương, vết thương có thể tự bịt kín hoặc vẫn còn hở.
Các dấu hiệu chính:
+ Da nhợt nhat, vã mồ hôi.
+ Đau tức ngực, khó thở, ho.
+ Có thể có khí phì phò qua vết thương mỗi khi bệnh nhân thở.
+ Bệnh nhân có thể bị sốc.
2. Vết thương bụng:
Phân loại, dấu hiệu, của vết thương bụng: Vết thương bụng chia làm 2 loại:
-Vết thương thành bụng: Vết thương đơn thuần ở thành bụng như các vết thương phần mềm khác. Toàn thân ít thay đổi.
– Vết thương thấu bụng: Vết thương xuyên thủng thành bụng, có thể gây tổn thương hoặc không gây tổn thương nội tạng bên trong ổ bụng.
Các dấu hiệu chính:
+ Đau tại chỗ vết thương, sau đó lan ra khắp bụng.
+ Buồn nôn, nôn.
+ Bí trung, đại tiện: khi bệnh nhân đến muộn.
+ Sốc: Khi có tổn thương các tạng trong ổ bụng.
+ Tại vết thương có thể thấy ruột. Mạc nối lớn lòi ra ngoài hoặc có dịch tiêu hóa và máu chảy ra.
3. Xử lý vết thương ngực, bụng:
* Xử lý vết thương:
– Đối với vết thươ ngực: dùng băng, băng kín vết thương.
+ Dùng băng, băng kín vết thương nhỏ: dùng gạc sạch, bôi thuốc mỡ và ép vết thương lại.
+ Đối với vết thương lớn, thấy khí phì phò qua vết thương khi bệnh nhân thở, thì phải làm nút gạc (nút DEPAGE) để bịt kín: Đặt một miếng gạc to đã mở rộng vào sâu trong vết thương, sao cho các mép gạc xòe ra ngoài, rồi nhét một số gạc dài vào trong cho chặt, sau đó đặt thêm gạc bên ngoài lồng ngực rồi buộc túm lại. Có thể bôi thêm thuốc mỡ vào gạc sạch đặt bên ngoài sau đó băng lại.
Đặt bệnh nhân ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi.
-Đối với vết thương bụng:
+ Nếu trên vết thương không thấy lòi ruột ra ngoài thì sát khuẩn xung quanh vết thương rồi băng lại.
+ Nếu thấy trên vết thương có lòi ruột ra ngoài thì không được nhét ruột vào ổ bụng. Dùng một bát sạch úp lên rồi băng lại.
*Chuyển ngay bệnh nhân về tuyến trên điều trị.

{tab=Bài 13}

VÙI LẤP
Vùi lấp là một tai nạn xẩy ra khi bị đất đá, bê – tông…vùi kín, gây nhiều thương tích phức tạp, gây ngạt thở, phần lớn chết người. Trong thiên tai, động đất là một tai họa khủng khiếp, làm sập đổ nhà cửa, sụt đất lún sâu cả một diện tích lớn, vùi lấp số đông người. Trong chiến tranh, việc ném bom cũng gây sập đổ nhà cửa, hầm trú ẩn, vùi lấp nhiều người.

Trong môi trường lao động, cũng có khi xẩy ra tai nạn vùi lấp hàng loạt như bị sập hầm lò, sập đổ nhà xưởng…

Những người bị vùi lấp do sập hầm lò, sập đổ nhà xưởng có thể bị nhiều tổn thương nặng và phức tạp:

Bị vỡ sọ, gẫy xương sống, gãy xương các chi, vỡ các phủ tạng vùng ngực, bụng.
Các vết thương khác nhau gây chảy máu
Có thể bị ngạt thở nếu bị vùi lấp kín
Đặc biệt, nếu chân tay bị đè lâu từ hai giờ trở lên thì bị tê dần rồi không thấy cảm giác nữa, sưng to, sau đó dẫn đến sốc nặng, có thể chết nhanh chóng. Đó gọi là hội chứng vùi lấp

Cấp cứu vùi lấp rất phức tạp, phải có đủ phương tiện mới có khả năng cứu sống nạn nhân được.

Một số nguyên tắc sơ cấp cứu nạn nhân bị vùi lấp:

Phải đào bới thật nhanh đưa nạn nhân ra khỏi đống vùi lấp, càng sớm càng tốt. Trước hết phải bới thật nhanh một lỗ hở cho nạn nhân thở được, rồi tiếp tục bới rộng để kéo họ ra. Nếu tay chân bị vùi lấp mà kịp đào bới sớm trước hai tiếng đồng hồ thì ít bị hội chứng vùi lấp.
Khi đưa nạn nhân ra khỏi đống vùi lấp, việc đầu tiên là kiểm tra xem nếu bị ngạt thở thì làm hồi sức hô hấp.
Sau đó kiểm tra các tổn thương khác nếu có để có biện pháp sơ cứu phù hợp.
Băng ép chỉ bị vùi lấp bằng băng cuộn, nhưng để hở đầu chi để dễ quan sát
Cho uống các loại nước lợi tiểu như nước đường hoặc dung dịch ORESOL
Chuyển nạn nhân đến bệnh viện gần nhất.

{tab=Bài 14}

NGỘ ĐỘC
Trong phần này không đề cập đến ngộ độc trong sinh hoat (ngộ độc thực phẩm, ngộ độc rượu, ngộ độc thuốc…), mà chi nois đén ngộ độc cấp do các chất độc công nghiệp.
Ngộ độc hay nhiễm độc có thể xảy ra ở nơi làm việc do nhiều nguyên nhân khác nhau hư hóa chất từ nhà máy rò rỉ ra, nhà máy bị hư hỏng, kho bảo quản hoaas chất không đúng qui cách về an tòa, tai nạn nổ, cháy… Hầu hết các ca ngộ độc trông công nghiệp đều có liên quan đến các khí độc hại.

Các chất độc thường vào cơ thể theo 4 đường sau:

Đường thở: bị hít vào trong phổi và bị hấp thu.
Đường tiêu hóa: Bị nuốt vào và thẩm thấu vào ruột.
Đường da, niêm mạc: Bị thẩm thấu qua da.
Đường tiêm: Qua da, tĩnh mạch.

Mỗi loại chất đọc khi lọt vào cơ thể có tác động khác nhau và gây nguy hại cho các cơ quan nội tạng khác nhau, vì vậy sơ cấp cứu viên và tình nguyện viên CTĐ khi gặp tai nạn ngộ độc hóa chất nên yêu cầu sự giúp đỡ của cán bộ y tế. Trong khi chờ đợi sự can thiệp chuyên môn của cán bộ y tế, sơ cấp cứu viên vẫn tiến hành việc sơ cứu dựa vào những nguyên tắc sau:

Bảo vệ thân thể: Tiếp cận hiện trường một cách cẩn thận, nhanh chóng. Giữ khoảng cách an toan giữa hiện trường và nơi sơ cứu.
Quan sát các biển báo, cố gắng nhận ra hóa chất gây tai nạn. Thông báo ngay với cơ quan chuyên môn xin hỗ trợ.
Có các phương tiện ứng cứu cần thiết và chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế càng nhanh càng tốt.
Chỗ sơ cấp cứu phải an toàn, xa nơi nhiễm độc, thoáng khí.
Tháo các đồ trang sức và các vật dụng khác ra khỏi quần áo nạn nhân để cứu chữ sau này thuận tiện hơn.
Tại hiện trường nếu có hoas chất rò rỉ hoặc tràn ra ngoài phải dùng cát hay đất khô thấm, quét rồi đổ ra nơi an toàn, dùng nước cọ rửa sau khi đã thấm và quét sạch đất cát.

Sơ cấp cứu đối với bỏng do hóa chất:

Dội nước vào chỗ bị tổn thương ít nhất 15 phút.
Cởi quần áo dính hóa chất.
Tránh tiếp xúc với bất kì vật liệu nào dính hóa chất.
Xác định chất hóa học để điều trị tiếp tho.

Sơ cấp cứu vết bỏng do phốt pho:

Giữ độ ẩm, tốt nhất là ngâm trong nước.
Giữ quần áo ướt trong khi vận chuyển nạn nhân tới bệnh viện.
Dùng cặp gắp bỏ những mảnh phốt pho dính vào người. Không được chạm tay vào phốt pho.

Sơ cấp cứu ngộ độc xyanua:

Chuyển nạn nhân ra khỏi khu vực nguy hiểm.
Cởi bỏ quần áo bị nhiễm xyanua.
Bơm và thở oxi nếu có sẵn.
Nếu có nuốt khỏi xyanua mà nạn nhân còn tỉnh táo thì phải làm cho nôn ra bằng cách dùng ngón tay ngoáy vào thành sau họng, cứ 15 phút nhắc lại một lần.
Khẩn trương chuyển nạn nhân đến bệnh viện.

Sơ cấp cứu đối với người nuốt phải chất độc:

Nếu nuốt phải chất axit hay chất kiềm:

– Không được gây nôn, vì sẽ gây bỏng nhiều hơn.
– Cho uống từng ngụm sữa hoặc nước.

Nếu chất độc không phải axit hoặc kiềm, thi dụ thuốc trừ sâu, thuốc chuột, thuốc chữa bệnh…:

– Gây nôn bằng cách dùng ngón tay ngoáy ào sau thành họng, cứ sau 15 phút nhắc lại một làn.
– Cho uống nhiều nước sau khi nôn. Chú ý trong ngộ độcvôn-pha-tốc (hóa chất trừ sâu trong nông nghiệp) không cho nạn nhân uongs sữa.

Sơ cấp cứu khi hít thở phải khí độc:

Di chuyển nạn nhân ra khỏi vùng có khí độc. Bạn phải bảo vệ mình bằng mặt nạ phòng độc hoặc bằng khẩu trang, khăn dúng nước vắt ẩm che mũi và miệng.
Đặt nạn nhân nằm ở tư thế hồi phục.
Cho thở oxi, nếu có.
Nếu nạn nhân bất tỉnh kiểm tra nhịp thở và mạch đập. Làm hô hấp nhân tạo nếu cần.

Sơ cấp cứu khi hóa chất vào mắt:

Rửa mắt bị tổn thương dưới vòi nước lạnh ít nhất 10-15 phút.
Nếu khi nhắm mắt lại mà bị đau thì nhẹ nhàng kéo mí mắt ra để rửa, cẩn thận đừng để nước nhiễm bẩn chảy sang mắt kia.
Đặt gạc vô trùng và băng mắt lại.
Chuyển đi bệnh viện tiếp tục điều trị.

Phòng ngừa ngộ độc công nghiêp:

Lãnh đạo nhà máy, chủ các xí nghiệp phải tuân thủ các qui chế, qui trình về bảo đảm an toàn cho người lao động theo yêu cầu củ Bộ Luật lao động ban hành ngày 5/7/1994 và Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995.
Những nơi làm việc có chất độc hại hoặc nguy hiểm, kho dự trữ hoặc các phương tiện chuyên chở các chất độc hại phải có treo các dấu hiệu cảnh báo cho mọi người biết; có bản hướng dẫn qui tắc an toàn treo ở nơi dễ thấy nhất.
Người lao động phải đọc và tuân thủ các bản hướng dẫn về an toàn lao động
Được hướng dẫn cách đề phòng tai nạn và tự sơ cứu khi làm việc với hóa chất độc hại.
Sử dụng quàn áo, trang bị bảo hộ cá nhân khi làm việc ở nơi độc hại, nguy hiểm.
Tạo thói quen làm sạch nơi làm việc: tắm rửa sạch sau khi làm việc, tiếp xúc cới hóa chất.
Không ăn uống, hút tuốc trong khi làm iệc với hóa chất.

{tab=Bài 15}

GIẢM ĐƯỜNG HUYẾT
Cơ thể bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường không kiểm soát được nồng độ đường glucoza trong máu. Việc tăng đường huyết phát triển chậm, không cần có biện pháp cấp cứu.
Não sẽ phản ứng rất nhanh khi lượng đường trong máu giảm thấp hơn mức bình thường. đó là triệu chứng giảm glucoza máu, thường xảy ra ở những người bị bệnh tiểu đường hay sau khi uống rượu quá nhiều.

Dấu hiệu nhận biết:
– Bệnh nhân có thẻ tự biết nếu họ có bị bệnh tiểu đường.
– Chóng mặt, ngất xỉu hoặc đói.
– Tim mạch đập nhanh, run cơ.
– Hoảng loạn cư sử khác thường.
– Da nhợt nhạt, lạnh đổ mồ hôi.
– Thở nông.

Sơ cứu người bị giảm đường huyết:
Nếu bệnh nhân còn tỉnh:
– Giữ bệnh nhân ngồi ở tư thế thoải mái, cho uống nước đường, mật ong, ngậm đường hay thức ăn ngọt khác.
– Sau khoảng 5 phút bệnh nhân hồi phục, để họ nghỉ ngơi và uống nước có nhiều đường.
Nếu bệnh nhân đã bất tỉnh:
– Thông đường thở, kiểm tra nhịp thở, nhịp tim của bệnh nhân.
– Hà hơi thơi ngạt -ép tim.
– Đặt họ nằm ở tư thế hồi phục.
– Gọi đội cấp cứu y tế hoặc chuyên đi bệnh viện.

{tab=Bài 16}

CO GIẬT
Co giật ( hay gọi là động kinh ) là do rối loạn chức năng não bộ gây ra. Nguyên nhân có thể là do chấn thương ở đầu, suy não – thiếu oxy hoặc nhiễm chất độc.

Dấu hiệu nhận biết:
– Đột nhiên nạn nhân ngã ra bất tỉnh.
– Co giật toàn than sùi bọt mép.
– Tiểu tiện ra quần mà không biết.

Sơ cấp cứu co giật:
– Giữ cho nạn nhân an toàn. Có thể đặt nạn nhân xuống sàn để phòng tai nạn cho họ.
– Chuyển các vật nguy hiểm kể cả đồ đạc xa nạn nhân.
– Nới rộng quần áo, cổ áo nạn nhân.
– Trong thời gian co giật không cho uống nước hoặc thuốc.
– Không cho bất kỳ cái gì vào miệng nạn nhân.
– Khi cơn giật ngừng, đặt họ ở tư thế hồi phục hoặc để cho họ ngủ.
– Có người theo dõi nạn nhân đến khi họ tỉnh lại.
– Chuyển đi bệnh viện để chăm sóc y tế.

{tab=Bài 17}

CƠN HEN (SUYỄN)
Cơn hen (suyễn) là hiện tượng đường thở bị co thắt hoặc bị tắc trong bệnh hen khi lên cơn cấp tính. Thường người bị bệnh hen đều tự biết bệnh và mang theo thuốc phòng.

Dấu hiệu cơn hen:
– Khó thở, thở nấc từng cơn.
– Có tiếng khò khè khi thở.
– Kèm theo ho.
– Khó nói hết câu vì cơn.
– Khó thở.

Sơ cấp cứu cơn hen:
– Hỏi xem bệnh nhân có mắc hen không và họ thường dùng thuốc gì.
– Giúp họ ngồi tựa phía ngực vào thành bàn hoặc lưng ghế.
– Nếu họ mang theo thuốc thì giúp họ xịt vào miệng – họng.
– Động viên họ bình tĩnh.
– Nếu không giảm cơn hen phải chuyển đến bệnh viện gần nhất.

{tab=Bài 18}

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ NÓNG VÀ LẠNH
Người lao động nhiều khi phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao hoặc thấp hơn bình thường, ví dụ như ở lò nấu gang thép, lò thổi thủy tinh, làm đá trên núi cao, làm việc ở xưởng đông lạnh….

MẤT NHIỆT DO QUÁ NÓNG:
Do cơ thể bị mất muối và nước vì đổ mồ hôi quá nhiều, nhất là trong môi trường nóng và ẩm.

Dấu hiệu nhận biết:
– Đau đầu, chóng mặt, lẫn lộn.
– Chán ăn buồn nôn.
– Đổ mồ hôi, da nhợt nhạt.
– Mạch thở nhanh và yếu.

Sơ cấp cứu:
– Đỡ nạn nhân nằm ở nơi mát. Nâng hai chân lên.
– Nếu còn tỉnh, cho uống từng ngụm nước pha muối loãng (pha 1 muỗng cà phê muối/1 lít nước).
– Nếu bất tỉnh đặt họ ở tư thế hồi phục và gọi đội cấp cứu y tế.

CẢM NHIỆT:
Dấu hiệu nhận biết:
– Đau đầu, chóng mặt và bất an.
– Bồn chồn và bối rối.
– Da khô, đỏ và nóng.
– Mạch đập dồn dập.
– Thân nhiệt trên 40oC.

Sơ cấp cứu cảm nhiệt:
– Nhanh chóng đưa bệnh nhân đến chỗ mát. Nới rộng quần áo và thắt lưng.
– Dùng tấm vải ướt, lạnh đắp cho bệnh nhân (luôn giữ cho vải ướt). Theo dõi thân nhiệt cho đến khi xuốn gần 38oC.
– Khi thân nhiệt giảm xuống 38oC, thay tấm vải ướt bằng tấm vải khô.
– Nếu thân nhiệt lại tăng, phải lặp lại quá trình trên.

CHỨNG HẠ NHIỆT DO LẠNH:
Khi thân nhiệt giảm xuống dưới 35oC thì gây ra chứng hạ nhiệt. Thường xảy ra khi lao động ngoài trời lạnh, nhiều gió và ẩm.

Dấu hiệu nhận biết:
– Run lẩy bẩy.
– Da khô, lạnh, tái xanh, cơ thể có cảm giác “lạnh cứng như đá”.
– Cử chỉ khó khăn, lo lắng, bồn chồn.
– Thở nông mạch yếu và chậm.
– Có thể bất tỉnh.

Sơ cấp cứu chứng hạ nhiệt:
– Nhanh chóng đưa bệnh nhân vào nhà hoặc chỗ ấm và kín gió.
– Đặt nạn nhận lên giường đắp chăn cho kín.
– Cho nạn nhân uống nước nóng, ăn súp nóng hay thức ăn có năng lượng cao như socola.
– Cởi áo khoác và giầy nạn nhân, thay bằng đồ ấm hoặc khô.
– Nếu nạn nhân bất tỉnh, kiểm tra nhịp thở, mạch, chuẩn bị thổi ngạt và ép tim, sau để ở tư thế hồi phục và gọi cấp cứu y tế.

{tab=Bài 19}

CHẢY MÁU
Một vết đứt, thủng, rách trên da hoặc cơ thể đều làm chảy máu vì gây rách hoặc thủng mạch máu. Nếu vết thương kín ở các cơ quan nội tạng làm máu chảy ra khỏi vòng tuần hoàn nhưng không thể ra ngoài cơ thể. Vì vậy có hai loại chảy máu:
Chảy máu ngoài và chảy máu trong.

Khi máu bị mất quá nhiều, khoảng một nửa dung lượng bình thường (trên 2 lít ở người lớn) sẽ dẫn đến tình trạng sốc, hôn mê và chết.

Khi có vết thương, mạch máu bị đứt ( mao mạch, tĩnh mạch hoặc động mạch), máu chảy ra ngoài, bạn có thể phân biệt máu động mạch hay tĩnh mạch:

Máu động mạch Máu tĩnh mạch
Máu đỏ tươi vì giàu oxy

Máu đỏ sẫm vì bị giảm oxy
Chảy thành tia do áp lực của nhịp tim

Không thành tia
Số lượng nhiều

Số lượng ít

Máu chảy ra từ các mao mạch thường chậm, số lượng ít và các mao mạch có thể tự hàn gắn được theo cơ chế đông máu.
Cần phân biệt máu chảy ra từ vết thương động mạch hay tĩnh mạch, vì liên quan đến cách sơ cấp cứu:

Đối với vết thương tĩnh mạch ở các chi, khi sơ cứu, bạn chỉ cần băng ép cũng đủ để cầm máu. Nếu vết thương sâu rộng, máu chảy nhiều thì đặt nhiều gạc sâu vào trong vết thương rồi mới băng ép.
Đối với vết thương động mạch ở các chi, nếu băng ép không cầm được máu thì cán bộ y tế phải đặt ga – rô. Sơ cấp cứu viên chỉ được phép đặt ga – rô nếu được học tập và thực hành thành thạo.

Nguyên tắc khi đặt ga – rô:

Phải biết chắc là máu từ động mạch mới được đặt ga – rô để cầm máu
Ép động mạch phía trên vết thương, chỗ động mạch đi qua trên nền xương cứng trước khi đặt ga – rô.
Đặt ga – rô cao su hoặc ga – rô vải, cách mép vết thương 3 – 5cm phía trên
Xoắn ga – rô hay rút ga – rô từ từ đến khi nào máu ở vết thương hết chảy hoặc động mạch ở phía dưới không còn dập là được.
Đặt ga – rô xong phải ghi phiếu đặt ga – rô ( xem mẫu)
PHIẾU ĐẶT GA – RÔ ( Mẫu)
Tên nạn nhân: ………………………………….Tuổi:……………….
Vết thương:……………………………………………………………
Tên người đặt ga – rô:………………………………………………..
Giờ đặt ga – rô:……………………………………………………….
Nới ga – rô lần thứ nhất:…giờ……………………………………….
Nới ga – rô lần thứ hai:… giờ………………………………………..
Nới ga – rô lần thứ ba:… giờ…………………………………………
Nới ga – rô lần thứ :…… giờ…………………………………………
Giờ nới ga – rô: Cứ một giờ nới ga – rô một lần 30 giây. Khi nới phải rất từ từ. Trước khi nới nên tiêm một ống thuốc trợ tim ( long não, caphein…) trước 5 phút.
Chú ý:
Đặt ga – rô không đúng chỉ định và đúng kỹ thuật sẽ vô cũng nguy hiểm, có thể đưa đến hoại tử, làm chết phần chi ở dưới ga – rô, vì vậy chưa được huấn luyện tốt thì không được thực hiện.
Sơ cấp cứu luôn luôn nhớ tự bảo vệ mình khi tiếp xúc với máu ( mang găng tay cao su hoặc bọc tay bằng túi ni – lon).
Sơ cứu chảy máu ngoài:

Trường hợp vết thương nhẹ chảy máu ít:

Rửa tay sạch trước và sau khi sơ cứu chảy máu
Rửa vết thương bằng nước sạch, có thể rửa dưới vòi máy
Nếu là vết thương nhẹ như sướt da chỉ có máu rỉ ra thì để hở cho khô. Nếu máu chảy nhiều hơn chút ít thì đặt miếng gạc lên vết thương và băng lại hoặc dùng băng keo băng kín.

Trường hợp vết thương chảy máu nhiều:

Rửa tay trước và sau khi sơ cứu chảy máu
Xác định vị trí nơi chảy máu để xử lý đúng phương pháp
Bảo nạn nhân hoặc sơ cấp cứu viên dùng các ngón tay ép chặt lên hai mép vết thương ít nhất 5 – 10 phút để cầm máu.
Đặt nạn nhân nằm xuống. Nếu vết thương ở tay hay chân, gác tay hoặc chân lên cao hơn so với tim đồng thời tay bạn vẫn ép chặt vết thương để cầm máu
Phủ vết thương bằng miếng gạc sạch rồi băng lại, đừng băng chặt quá làm tắc nghẽn lưu thông của máu.
Kiểm tra lại, nếu thấy máu còn chảy thấm qua lớp băng thì đặt thêm miếng gạc nữa rồi băng phủ lên, không được tháo lớp băng lần đầu ra
Nếu băng ở các chi, phải thường xuyên kiểm tra các ngón xem màu da có hồng và có ấm không, nếu da các ngón tái tím và lạnh thì phải nới lỏng băng để máu lưu thông
Nếu có dấu hiệu sốc như xanh tái, mệt, lạnh, nhớp nháp mồ hôi thì phải chống sốc.

Chảy máu trong:

Chảy máu trong còn gọi là xuất huyết nội có thể do thương tích như gãy xương kín, vết thương có vật xuyên thủng cơ quan phủ tạng, dập gan lách hoặc do bệnh như loét dạ dày. Chảy máu trong rất nghiêm trọng mặc dù bạn không nhìn thấy máu chảy. Có thể khi máu dò ra ngoài theo các hốc tự nhiên như: mũi, miệng, tai, máu có trong phân, nước tiểu, trong chất nôn….
Chảy máu trong có thể nhận biết qua các dấu hiệu sau:

Xanh xao
Da lanh, ẩm ướt
Mạch yếu, nhanh
Đau
Khát
Bối rối, bồn chồn, có thể dẫn đến bất tỉnh
Máu rỉ ra từ các hốc tự nhiên của cơ thể

Sơ cứu chảy máu trong:

Ngay tại nơi xẩy ra tai nạn, bạn là tình nguyện viên sơ cấp cứu nên khó giải quyết, cho nên cần gọi ngay đội cấp cứu y tế hoặc chuyển khẩn cấp đến bệnh viện.
Trong khi chờ đợi đội cấp cứu y tế hoặc chuyển đến bệnh viên, bạn đỡ nạn nhân nằm xuống, kê chân họ cao hơn đầu.
Theo dõi các dấu hiệu của sốc, nếu có thì sơ cấp cứu sốc.

Chảy máu mũi:

Bảo người bệnh ngồi xuống, cúi về phía trước, bảo họ không được nuốt máu
Bảo họ tự dùng tay bóp hai cánh mũi, cúi người về phía trước và thở qua mồm, trong vòng khoảng 10 phút.
Nói họ không được khịt hoặc xì mũi
Khi máu ngừng chảy, dặn họ không được sờ, khịt hoặc xì mũi trong vài giờ.
Nếu sau 30 phút máu vẫn chảy, phải chuyển họ đến cơ sở y tế.

{tab=Bài 20}

CƠN ĐAU TIM
Cơn đau tim thường xảy ra nhất khi máu cung cấp đến các cơ tim bị nghẽn , chẳng hạn bởi cục máu đông ở một trong những động mạch vành hoạc do suy tim cấp. Hậu quả nặng hoặc nhẹ phụ thuộc vào mức độ cơ tim bị ảnh hưởng ít hoặc nhiều. Nhiều bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn.

Dấu hiệu của cơn đau tim :

Nạn nhân có hiện tượng đau xuất phát từ tim
Tức ngực , khó thở ,có khi thấy khó chịu ở bụng
Da nhợt nhạt , môi tím tái
Mạch đập nhanh , người lả đi
Chóng mặt hoặc ngất đột ngột

Sơ cấp cứu cơn đau tim:

Đỡ nạn nhân ngồi xuống , đầu và vai có chỗ để tựa làm sao cho tư thế thoải mái để giảm sức ép lên tim
An ủi và trấn tĩnh nạn nhân
Nếu có Aspirin cho nạn nhân nhai chầm chậm và nuốt dần
Gọi đội cấp cứu y tế ( số 115) hoặc bệnh viện

{/tabs}

theo nukeviet