2:05 am - Thursday July 24, 2014

Phù thũng (Edema)

Phù thũng có thể xảy ra ở nhiều phần trên cơ thể như mặt, mí mắt, tứ chi hay toàn thân. Nguyên nhân chính phù thũng thường liên quan tới phong thấp hay ba tạng âm không điều hòa được lượng nước trong cơ thể là phế, tỳ và thận
Phù thũng qui về dương thủy và âm thủy. Dương thủy thường do phong thấp và thường là thực chứng. Âm thủy thường do thận và tỳ dương suy và là hư chứng.

Phù thũng do phong thấp

Mắt, mặt phù thũng, phủ ở phần trên trước, rồi lan xuống phần dưới, có khi chỉ phù ở một bên mặt hay bên trái, sốt, sợ gió, đau đầu, đi tiểu ít. Phù thũng xuống phần dưới chân, nhưng không ra mồ hôi, và thân người đôi khi cũng phù nề, đây do phong thấp, có thể gây ra tứ chi đau nhức và làm giới hạn cử động. Có người chỉ đau và sưng ở khuỷu tay, cổ tay hay ống chân và bàn chân mà không bị phù nhiều. Mạch phù. Rêu lưỡi trắng dầy và mịn.

Phương pháp chữa trị: Truy phong, trừ thấp

 

Giải cơ thẩm thấp thang

1.Ma hoàng 9 grm

2.Quế chi 6 grm

3.Hoắc hương 12 grm

4.Thổ phục linh 30 grm

5.Bạch mao căn 20 grm

6.Trạch tả 9 grm

7.Khương truật 9 grm

8.Sinh khương 6 grm

9.Hạnh nhân 9 grm

10.Phòng phong 9 grm

11.Cam thảo 3 grm

-Ma hoàng, hạnh nhân, quế chi, cam thảo: Giải phong hàn và ra mồ hôi.

-Hoắc hương, thổ phục linh, thương truật: Giải thấp, trừ đau nhức.

-Bạch mao căn, trạch tả, khương hoạt: Lợi tiểu và trị phù thũng.

-Hạnh nhân, sinh khương: Trị ho và tiêu đờm.

-Phòng phong: Khu phong.

Phù thũng do thận và tỳ dương suy

Thận dương suy còn gọi là mạng môn hỏa suy: Bệnh nhân lạnh tứ chi, mặt trắng bệch hay đen kịt, đau vùng thắt lưng, xuất tinh sớm, rụng răng trước tuổi, mất thính giác, liệt dương, nước tiểu trắng trong, đi tiểu nhiều lần, ngày nhiều hơn đêm, phù chân, nhạt miệng, rêu lưỡi trắng. Mạch trầm, trì và vô lực.

Thận dương suy thường đi với tâm dương suy, tỳ dương suy hay phế khí suy.

Tùy theo trường hợp suy nhiều hay ít, có thể phân ra ba trường hợp: Thứ nhất là phù thũng và tim hồi hộp. Thứ hai phù thũng và tiêu hóa không kiện toàn, đầy bụng, ăn không tiêu. Thứ ba là ho mãn tính, thở hụt hơi và suyễn, cuối cùng là thận bất nạp khí.

Nhiều loại bệnh liên quan tới thận dương suy được Tây y định bệnh: Viêm thận mãn tính, đau lưng, sinh lý yếu, bất lực, tiêu nhiều và bệnh tiền liệt tuyến, nang thượng thân yếu, giảm năng tuyến giáp trạng (hypothyroidism), suyễn mãn tính hay khí thũng, bệnh tim, viêm đường ruột mãn tính, lỵ mãn tính, phù do trai gan, và phù thũng toàn thân, nhất là ở dưới thắt lưng, cảm thấy nặng nề và đau, tiểu ít, tứ chi lạnh, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, sắc diện trắng bệch. Lưỡi mập, trắng và rêu lưỡi trắng và dầy. Mạch trần trì.

Phương pháp trị: Bổ thận, tỳ dương và lợi tiểu.

Bát vị địa hoàng thang

1.Phục linh 9 gram

2.Mẫu đơn bì 9 gram

3.Quế bì 3 gram

4.Thục địa 15 gram

5.Sơn thù du 9 gram

6.Phụ tử 6 gram

7.Trạch tả 9 gram

8.Hoài sơn 9 gram

Bát vị địa hoàng thang trong Ðông y được dùng chữa trị những loại bệnh sau: Phù thũng, tê tứ chi, bao tử ứ nước, tiểu đường. Toa thuốc này mục đích chính là tái tạo lại sự suy của thận dương, nang thượng thận và sản xuất lại tinh. Thường cho bệnh nhân quá mệt mỏi và suy nhược, ăn uống chậm tiêu, táo bón, tiểu khó, tiểu nhiều, khát nước kèm khô lưỡi, đau lưng, yếu vùng rốn.

Nhiệm vụ của từng vị trong bài thuốc:

-Thục địa: Gia tăng sức lực, bổ dưỡng và nuôi dưỡng.

-Sơn thù du: Gia tăng sức lực, tăng cường thận, ấm bụng và chân, gia tăng sinh lực cho nam giới.

-Hoài sơn: Nuôi thận, giảm lạnh thân thể và giúp da trở lại mượt mà.

-Mẫu đơn bì: Tan máu cục và giảm đau.

-Phục linh: Thoát nước.

-Trạch tả: Gia tăng đường tiểu tiện và giảm khát.

-Quế bì: Giúp cho thục địa trong sự lưu thông máu và phục linh còn gia tăng sự tiểu tiên ở vùng hạ tiêu.

-Phụ tử: Gia tăng thân nhiệt, tái tạo lại trách nhiệm của tạng phủ bị suy yếu và ăn khó tiểu sẽ nhờ phục linh và quế khai thông.

Gia:

-Trư linh 9 grm, trạch tả 9 grm: Tiêu thấp, lợi tiểu, trị phù thũng.

-Bạch truật 9 grm, sa nhân 6 grm, mộc hương 6 grm: Kiện tỳ, kiện toàn tiêu hóa và hóa thấp.

-Ngưu tất: Dẫn thuốc xuống chân.

Chữa trị những bệnh sau đây: Phù thũng toàn thân hay bán thân, viêm thận, bệnh lao phổi, viêm bể thận, chứng có albumin trong nước tiểu, tiểu khó, tiểu không thông, bệnh tiểu đường, xuất huyết não, áp huyết cao, áp huyết thấp, thiếu máu, xuất tinh sớm, bất lực, không cương cứng được, đau lưng, đau thần kinh tọa, thoái hóa xương sống, tê chân và phú thũng, mộng mắt, áp huyết mắt, cận thị, ngứa cửa mình, khô da, chứng mề đay và bệnh lậu.

 

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

2 Responses to “Phù thũng (Edema)”

  1. 06/04/2012 at 1:08 pm #

    Cá diếc chữa phù thũng

    Cá diếc, tên khác là tức ngư, phụ ngư. Tên khoa học: L. Cá diếc là loài cá nước ngọt.

    Theo Đông y, thịt cá vị ngọt bình, vào tỳ vị và đại tràng. Tác dụng kiện tỳ, hành thuỷ lợi thấp, khai vị, hạ khí thông nhũ, thanh nhiệt giải độc. Dùng cho các trường hợp suy nhược, mỏi mệt ăn kém, tiêu chảy, kiết lỵ, phù, đại tiểu tiện xuất huyết. Mật cá có vị đắng, tính lạnh.

    Một số thực đơn chữa bệnh có cá diếc:

    Canh cá diếc củ cải: Cá diếc 200g, củ cải 200 – 400g. Cá diếc mổ bỏ ruột, rửa sạch; củ cải rửa sạch, cắt khúc; cho cá và củ cải vào nồi, thêm nước và gia vị, hầm nhừ (có thể cho thêm khế cùng hầm). Khi ăn thêm tương dấm hoặc vắt chanh. Ăn khi đói. Dùng cho các trường hợp đầy bụng, lạnh bụng không tiêu, ăn kém, suy nhược cơ thể.

    Cá diếc nướng: Cá diếc 1 con, làm sạch bỏ ruột, để nguyên vay, gỡ bỏ mang, cho 1 lượng phèn chua bằng hạt lạc đã đập vụn vào bụng cá, đem cá nướng chín. Ăn với dấm mắm gia vị. Dùng cho hội chứng lỵ, đại tiện nhiều lần trong ngày.

    Cá diếc hầm sa nhân, cam thảo: Cá diếc 1 con, sa nhân 8g, cam thảo 4g. Cá làm sạch bỏ ruột, để nguyên vảy, gỡ bỏ mang; sa nhân, cam thảo giã vụn cho vào bụng cá; cho nước, hầm nhừ. Không cho ớt, muối mắm, cho các gia vị khác. Ăn liên tục đợt 3 tuần. Dùng cho bệnh nhân phù thũng toàn thân.

    Cá diếc nhồi lá chè nướng: Cá diếc 1 con, làm sạch bỏ ruột, để nguyên vay, gỡ bỏ mang. Cho lá chè non vào bụng cá, bọc giấy nướng chín. Ăn khi đói, ngày 1 – 2 lần, dùng trong vài ngày. Chữa bệnh đái tháo, tiêu khát, uống nhiều nước.

    Cá diếc hầm chân giò: Cá diếc 200g, giò heo 1 cái, thông thảo 10g, thêm nước gia vị hầm nhừ, bỏ bã thông thảo. Dùng cho bệnh nhân ít sữa, tắc sữa.

    Cá diếc hầm đậu đỏ: Cá diếc 200g, xích tiểu đậu 100g. Cá diếc làm sạch bỏ ruột, để nguyên vay, gỡ bỏ mang cho vào nồi cùng xích tiểu đậu, nước, hầm nhừ, thêm gia vị nhưng hạn chế muối. Dùng cho các trường hợp phù nề tay chân (cước khí), phụ nữ có thai phù thũng, còn có tác dụng an thai.

    Cá diếc sấy khô 100g, gừng khô 60g, bán hạ chế 60g. Tất cả nghiền thành bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g với nước ấm. Chữa viêm phế quản mạn tính.

    Cá diếc nấu với hoàng kỳ, khởi tử, rượu vang, gừng sống, hồ tiêu, giấm và đường. Một món ăn bổ huyết, dưỡng da, làm cho da dẻ hồng hào, sắc mặt tươi tắn.

    Kiêng kỵ: Người có urê huyết cao, hôn mê gan không nên ăn cá diếc.

    TS. Nguyễn Đức Quang

  2. 06/04/2012 at 1:08 pm #

    Thuốc chữa phù thũng bằng mã đề nước

    Trong Đông y vị thuốc từ mã đề nước gọi là trạch tả. Trạch tả có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh thận, bàng quang
    Mã đề nước còn có tên gọi khác là hẹ nước, vợi. Là cây cỏ thủy sinh, mọc trong ao hồ. Gốc và rễ ngập trong bùn. Thân ngắn hoặc không có thân. Lá mềm hình bầu dục, mọc thành cụm ở gốc. Hoa lưỡng tính mọc trên cuống dài, màu trắng, tím nhạt hoặc trắng đục. Quả hình cầu. Cây thường mọc thành đám ruộng ở các ao hồ nước nông, kênh rạch, bờ suối, ruộng trũng có nước quanh năm. Mã đề nước không chỉ dùng làm rau ăn (thân và lá rửa sạch, luộc qua rồi xào hoặc nấu canh ăn) mà còn là vị thuốc tốt. Bộ phận dùng làm thuốc là lá, thân rễ (thường gọi là củ) bỏ hết rễ, rửa sạch rồi phơi sấy khô.

    Theo Tây y, mã đề nước có tác dụng giảm mỡ máu, hạ huyết áp, chữa béo phì và tăng huyết áp. Còn trong Đông y vị thuốc từ mã đề nước gọi là trạch tả. Trạch tả có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh thận, bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi niệu, long đờm dùng chữa các bệnh: phù thũng do thận, ho do viêm họng, giúp mát gan, lợi tiểu…

    Chữa phù thũng do thận: Lá trạch tả 30g, thân cây sậy 100g, râu ngô 100g. Sắc với 3 bát nước, còn 1 bát chia uống hai lần trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa và tối. Dùng trong 7-10 ngày. Hoặc trạch tả, bạch phục linh, trư linh, hạt mã đề mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

    Mã đề nước

    Chữa ho do viêm họng: Lá trạch tả 30g, lá húng chanh 30g, gừng tươi 5g. Sắc khoảng 300ml nước còn 50ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Uống trong 5 ngày.

    Giúp mát gan: Trạch tả, bạch phục linh, mẫu đơn bì, sơn thù du, mỗi vị 10g, thục địa và hoài sơn mỗi vị 12g. Tất cả sao vàng, tán bột chế thành viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 8 – 10 viên. Uống trong 10 ngày.

    Chữa mụn nhọt sưng đau (chưa mưng mủ): Lá trạch tả tươi, lá cây lạc địa sinh căn, mỗi vị 15g. Rửa sạch, để ráo, giã nát đắp nơi mụn nhọt sưng đau. Ngày đắp 2 lần. Thực hiện trong 2 ngày.

    Chữa chứng hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu: Trạch tả 12g, sinh địa 15g, long đởm thảo, sơn chi tử, hoàng cầm, sài hồ, mẫu đơn bì, tri mẫu, cúc hoa mỗi vị 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Hoặc trạch tả 15g, bạch truật 6g, cúc hoa 12g. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. uống trong ngày. Dùng trong 7-10 ngày.

    Chữa bỏng da thể nhẹ (vết bỏng nhỏ và nông): Lá trạch tả tươi, lá cây lạc địa sinh căn, mỗi vị 30g, rửa sạch, giã nát đắp hoặc chườm nhẹ nơi có vết bỏng. Ngày làm 2 lần. Bài thuốc này giúp giảm đau và nhanh hồi phục khi bị bỏng.

    Giúp hạ sốt do cảm nóng: Lá trạch tả 20g, cỏ mần trầu 25g, lá tre 30g. Các vị thuốc trên đem sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm. Dùng trong 2 ngày.

    Theo Bác sĩ Hoàng Minh – Sức khỏe & đời sống

Viết phản hồi