Hội chứng lỗ khuyết não

Có 1,748 lượt xem

Người ta gọi lỗ khuyết não (lacunar syndrom) là các hốc nhỏ ở mô não bị nhồi máu hoại tử do tắc các nhánh xuyên vào của động mạch não có đường kính từ 108-400micromet. Những lỗ khuyết này có khi rất nhỏ nên không biểu hiện triệu chứng.


Lỗ khuyết não hình thành như thế nào?

 

Lỗ khuyết não cần được phân biệt với chảy máu não.

Lỗ khuyết não được hình thành là do tắc các động mạch xuyên nhỏ có đường kính 50-150micromet. Có khoảng 80% toàn bộ nhồi máu lỗ khuyết được tìm thấy ở quanh não thất, trong chất trắng não, hạch nền hoặc đồi thị, còn 20% khu trú ở tiểu não và cầu não. Các lỗ khuyết não là các khoang rỗng có bờ không đều, kích thước thường nhỏ hơn 10mm, nếu to hơn được gọi là siêu lỗ khuyết (superlacunar). Số lượng các lỗ khuyết được xác định là giảm dần theo thứ tự từ nhân bào sẫm, nhân đuôi, đồi thị nền cầu não, bao trong, cuộn chất trắng.

Ở các động mạch xuyên bị tắc nghẽn có hoại tử fibrin và có thâm nhiễm hyalin vào thành mạch, lớp áo giữa thành mạch mô chun bị thâm nhiễn làm giảm tính đàn hồi nên bị phình ra. Thành mạch tăng tính thấm, hồng cầu, protein huyết tương sẽ ngấm vào dưới lớp áo nội mạc. Khi đó, mạch máu có thể bị vỡ hoặc tắc nghẽn, tạo thành ổ xuất huyết hoặc ổ nhũn não nhỏ. Sau một thời gian, nếu không được điều trị kịp thời, vành hoại tử này sẽ trở thành lỗ khuyết não.

Nguyên nhân tạo thành lỗ khuyết não là gì?

Nguyên nhân tạo thành lỗ khuyết não thường thấy là tăng huyết áp và vữa xơ động mạch, trong đó tăng huyết áp chiếm 81% trường hợp bệnh nhân nhồi máu lỗ khuyết. Vữa xơ và các huyết khối là nguyên nhân cơ bản còn trong các trường hợp khác có thoái hóa mỡ hyalin (lipohyalin) cùng với tắc các mạch máu nhỏ.

Hội chứng lỗ khuyết não có biểu hiện gì?

Các triệu chứng được biểu hiện tùy theo vị trí lỗ khuyết. Phần lớn các trường hợp, bệnh cảnh thường gặp là:

– Bại vận động (liệt nhẹ) đơn thuần nửa người (mặt, tay, chân) là do vị trí lỗ khuyết ở bao trong hay cầu não.

– Đột quỵ cảm giác đơn thuần là vị trí lỗ khuyết ở nhân bụng – bên của đồi thị.

– Bại nửa người, thất điều (vị trí lỗ khuyết ở cầu não).

– Loạn vận ngôn – tay vụng về (… cầu não hay gối của bao trong).

– Bại vận động nửa người với mất ngôn ngữ vận động (… bao trong và tia vành kề bên).

– Liệt giả hành não là nguyên nhân xa phổ biến nhất của nhồi máu nhiều lỗ khuyết và có liên quan các bó vỏ – gai và vỏ hành. Khu trú lỗ khuyết thường gặp là nhân bào (37%), đồi thị (14%), bao trong (10%), cầu não (36%), vành tia, bao ngoài, bó tháp và các cấu trúc khác của thân não. Thường gặp khoảng 18-40% bệnh nhân trước đó đã bị các cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời. Các triệu chứng có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ, các thiếu hụt thần kinh tiền đình chậm trong 2-3 ngày và xuất hiện xuất huyết nhỏ mà chụp cắt lớp vi tính (CT-scanner chỉ phát hiện được 2/3 trường hợp, còn chụp cộng hưởng từ (MRI) có khả năng chẩn đoán với tỷ lệ cao hơn.

Bệnh nhân thường không có rối loạn tri giác, ít trường hợp co giật và nôn. Liệt vận động đơn thuần nửa người là hội chứng thường gặp nhất (60% trường hợp).

Quá trình phục hồi: có thể bắt đầu trong giờ, ngày hoặc tuần tùy theo kích thước và vị trí của lỗ khuyết và thường có khả năng phục hồi hoàn toàn nếu được điều trị kịp thời.

Về tiên lượng: Nếu bệnh nhân không có rối loạn tri giác, ngôn ngữ và các chức năng cao cấp của vỏ não thì được xác định là tiên lượng bệnh tốt.

Chẩn đoán hội chứng lỗ khuyết bằng cách nào?

Đột quỵ lỗ khuyết có xảy ra không? 

Khả năng các yếu tố nguy cơ cho đột quỵ lỗ khuyết là: nam giới 60%, nữ giới 21%; tăng huyết áp 70%; bệnh cục tắc mạch (embolio) 35%; đái tháo đường 29%; rối loạn lipid máu 13%, nghiện rượu 19%.

Chẩn đoán hội chứng lỗ khuyết dựa theo mấy tiêu chuẩn sau:

– Khởi phát: 40% trường hợp trước đó đã có cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời. 50% khởi phát như một nhồi máu não do vữa xơ động mạch. Bệnh khởi phát rồi diễn biến tăng dần các triệu chứng.

– Có tiền sử tăng huyết áp, bệnh nhân trên 60 tuổi.

– Tổn thương rất khu trú, phù hợp một trong các dạng lâm sàng như đã mô tả.

– Không có đau đầu, nôn, rối loạn thị giác, bệnh tim gây tắc mạch não và vữa xơ động mạch vùng cổ.

Tùy theo nguyên nhân và các nguy cơ, cần cho làm các xét nghiệm thích hợp. Chỉ có chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ mới giúp cho chẩn đoán lỗ khuyết được chính xác.

Cần chẩn đoán phân biệt với: Chảy máu não; nhồi máu não, khó phân biệt nhồi máu não thường có kèm theo mất ngôn ngữ, rối loạn tri giác, bán manh đồng danh; hội chứng giả hành não: hội chứng này do tổn thương bó tháp cả hai bên ở trên vùng hành tủy, thường do nhồi máu não hoặc chảy máu não. Trái lại trong hội chứng lỗ khuyết diễn biến bệnh từ từ, từng đợt, nói khó, đi từng bước nhỏ, rối loạn thăng bằng.

Cách điều trị hội chứng lỗ khuyết não?

Điều trị lỗ khuyết não điều quan trọng là điều trị tăng huyết áp; giảm các yếu tố nguy cơ, điều trị vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, bệnh tim. Chống tái phát bằng các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu, các thuốc giãn mạch trong đợt tiến triển bệnh, có thể dùng thuốc tăng chuyển hóa và trương lực tế bào thần kinh. Tùy theo mức độ, diễn biến bệnh, các loại thuốc này cần được chỉ định có chọn lọc và chú trọng đến các chống chỉ định, nhất là đối với trường hợp người bệnh cao tuổi, có tiền sử các bệnh dạ dày (viêm, loét) và gan, thận. Theo dõi diễn biến lâm sàng và các xét nghiệm cần thiết có định kỳ.

PGS. Vũ Quang Bích