Chụp cắt lớp (CT)

Có 11.853 lượt xem

CHỤP CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN
( CT SCANNER – COMPUTED TOMOGRAPHY SCANNER )


Máy CT Scanner được tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ lắp đặt tại bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long là một trong những thế hệ máy hiện đại và tiên tiến hiện nay.

CT Scanner là gì?

Chụp cắt lớp điện toán hay CT Scanner là phương pháp khảo sát hình ảnh kỹ thuật cao, CT Scanner dùng phương pháp điện toán xử lý dữ liệu thu được từ hệ thống cảm biến bộ phận ghi nhận tia X còn lại sau khi đi qua phần cơ thể khảo sát để dựng hình. Hình ảnh CT Scanner gần giống hình ảnh giải phẫu, có độ ly giải và tương phản cao.
CT là từ viết tắt của thuật ngữ Computed Tomography. Tomography là phương pháp chụp ảnh cắt lớp; Computed Tomography mang ý nghĩa là chụp cắt lớp với sự hỗ trợ của máy tính. Đây là phương pháp tạo ảnh dựa vào tính chất hấp thụ tia X của vật chất. Cùng với các phương pháp tạo ảnh khác như siêu âm, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp vi tính CT giúp cho ta “nhìn thấy” các cơ quan bên trong của con người mà không phải thực hiện phẫu thuật.
Chụp cắt lớp điện toán là kỹ thuật được Godfrey Hounsfield, một nhà khoa học người Anh sáng tạo năm 1972 và nhận giải Nobel Y học năm 1979. Lúc này ông vừa tròn 60 tuổi. Ðây là một kỹ thuật X-quang đặc biệt cho phép nghiên cứu trên những hình ảnh cắt lớp các phần mô khác nhau của một cơ thể sống nhờ một dụng cụ đặc biệt gọi là scanner (thuật ngữ chính thức được Hounsfield dùng năm 1980).
CT được ứng dụng rất rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng cũng như trong sinh thiết. CT được dùng để chẩn đoán các phần cứng của cơ thể bị tổn thương như: sọ não, cột sống, xương … Trong tất cả các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện nay thì CT cho hình ảnh về các phần cứng của cơ thể rõ nhất. CT còn được dùng để chẩn đoán ung thư, giúp phát hiện sớm khối u. Chụp CT có tiêm cản quang có thể giúp cho bác sĩ đánh giá sự phát triển và sự di căn của khối u. Các bệnh về tim mạch như tắc nghẽn mạch máu, các dị tật của tim…có thể được phát hiện bởi CT. CT được dùng trong nha khoa, nhi khoa, nhãn khoa hay để thực hiện nội soi ảo dùng kỹ thuật tạo ảnh 3D với sự hỗ trợ của máy tính. Ngoài ra, CT còn dùng để trợ giúp sinh thiết như sinh thiết tuyến tiền liệt, sinh thiết ung thư vú, sinh thiết cổ tử cung…
Một ưu điểm lớn nhất của CT là cho phép khảo sát các phần xương có cấu trúc tinh tế. Phương pháp chụp cộng hưởng từ – MRI (magnetic resonance imaging) không tỏ ra hữu hiệu trong trường hợp này. Hình ảnh CT cho chất lượng rất tốt. Vì vậy, hiện nay người ta kết hợp CT với phương pháp PET (dùng để tạo ảnh chức năng) để tạo ra máy quét CT/PET vừa cho hình ảnh giải phẫu vừa khảo sát được chức năng của các cơ quan.

Chuẩn bị trước khi làm chẩn đoán

o Tuân theo hướng dẫn của nhân viên y tế
o Xin mang theo hồ sơ, bệnh án, các xét nghiệm và các khảo sát hình đã có như : X-quang, siêu âm, MRI…
o Trẻ em nên được cha mẹ hay người bảo hộ dẫn đi
o Trong trường hợp bệnh nặng cần có Điều dưỡng, Bác sĩ điều trị theo kèm hỗ trợ khi cần thiết.
o Trường hợp chụp có cản quang, cần nhịn đói trước chụp 6-8 giờ (trừ trường hợp cấp cứu)

Bệnh nhân nên cung cấp những thông tin sau cho Bác sĩ:

o Phản ứng khi tiêm chích
o Tiền sử dị ứng với thuốc, rượu, thức ăn
o Tiền sử bệnh suyễn, bệnh mề đay…
o Tiền sử bệnh tim, bệnh về thận, bệnh đái đường
Chụp CT Scanner rất an toàn, ngoại trừ tác dụng có hại bởi tia X mức thấp. Với các lần chụp cho thấy, tác dụng có hại là không đáng kể. Đối với phụ nữ có thai ở 3 tháng đầu nên hạn chế chỉ định chụp. Trường hợp chụp có dùng thuốc cản quang, đôi khi có tác dụng không mong muốn, nhưng thường nhẹ.

Chỉ định chụp CT Scanner:

1- TẦM SOÁT UNG THƯ TOÀN THÂN (Whole Body Scan = WBS)
CT Scanner 12 tầm soát ung thư toàn thân là ứng dụng để chụp hình toàn bộ cơ thể từ đầu đến chân để phát hiện các bệnh lý ung thư tiềm ẩn ở người chưa có triệu chứng.
Cứ mỗi lần chụp cho ra hàng ngàn tấm hình, mỗi hình cách nhau 2,5 mm. Máy CT Scanner có thể phát hiện khối u rất nhỏ , chỉ vài milimét, với hình ảnh rõ nét và chi tiết .
Mục tiêu tầm soát toàn thân là để phòng bệnh và thực hiện trên người khỏe mạnh, không cảm thấy mình có bệnh hoặc Bác sĩ lâm sàng khám xét không tìm thấy triệu chứng bệnh . Do vậy, quý khách muốn kiểm tra sức khỏe hoặc muốn biết mình đang có nguy cơ ung thư đều có thể đăng ký chụp mà không phải qua chỉ định của Bác sĩ. Bác sĩ “máy MSCT 16” sẽ cho kết quả với lời tham vấn rõ ràng cho quý khách .

2– TẦM SOÁT BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH VÀNH (Screening of coronary artery disease)
Động mạch vành là động mạch chính nuôi tim, giúp tim đập. Bệnh động mạch vành là một bệnh nguy hiểm. Tỉ lệ tử vong cao. Nguyên nhân là do cholesterol dư thừa và chất vôi lắng đọng lên thành động mạch vành, tạo ra những mảng được gọi là mảng xơ vữa động mạch. Khi các mảng xơ vữa đã hình thành, nó lớn dần theo thời gian và gây hẹp lòng động mạch. Do động mạch vành có chức năng cung cấp máu nuôi dưỡng cho toàn bộ quả tim, nên khi động mạch vành bị hẹp, lượng máu đến nuôi tim không đủ, quả tim sẽ không hoạt động tốt, đưa dến nguy cơ tử vong cho người bệnh.

Làm thế nào để biết mình bị bệnh mạch vành khi chưa có triệu chứng nào?

Trả lời là có thể. Đó là tầm soát mạch vành bằng kỹ thuật MSCT 16 lát cắt.
Máy CT 16 lát cắt cho phép chụp hình động mạch vành mà không phải cần đến thủ thuật can thiệp. Thuốc cản quang sẽ được tiêm vào tĩnh mạch tại cẳng tay. Phương pháp này được gọi là chụp MSCT động mạch vành. Thủ thuật đơn giãn, thời gian chụp chỉ 10 phút. Không gây ra bất kỳ sự khó chịu nào cho quý khách và quý bệnh nhân. Kết quả sẽ trả lời ngay cho “qúy khách có bệnh lý mạch vành hay không”, “Có mảng xơ vữa tại động mạch vành gây không”. Độ chính xác của chụp động mạch vành trên MSCT 16 lát cắt đã được xác định là 97%.
Ưu việt của máy MSCT 16 lát cắt là hình ảnh mạch vành giống như trong kỹ thuật chụp động mạch vành can thiệp. Ngoài ra, nó còn cho thấy các mảng xơ vữa trên thành động mạch nếu có, mà chụp động mạch vành can thiệp không thể biết chính xác.

Ai sẽ được khuyến cáo dùng MSCT 16 tầm soát mạch vành?
1. Nam trên 40 tuổi
2. Nữ trên 45 tuổi
3. Lao động trí óc
4. Hút thuốc lá.
5. Quá cân / béo phì.
6. Stress (tình trạng căng thẳng)
7. Rối loạn mỡ trong máu.
8. Tiền sử hoặc đang điều trị tiểu đường .
9. Tiền căn gia đình có người bị bệnh lý tim mạch.
10. Bệnh lý cao huyết áp.

3- TẦM SOÁT UNG THƯ ĐẠI , TRỰC TRÀNG
Ung thư đại tràng và ung thư trực tràng là bệnh lý phổ biến và đứng hàng thứ hai trong các ung thư tiêu hoá. Đặc biệt, bệnh lý này xảy ra ở nhóm dân số trẻ và có liên quan đến yếu tố gia đình.
Đa số các ung thư đại, trực tràng phát sinh từ những khối thịt dư lành tính lồi lên khỏi thành ruột, được gọi là polyps. Các polype này là những khối tiền ung thư. Chúng không gây ra bất kỳ triệu chứng gì cho đến khi biến thành ung thư. Do vậy, khi các polype này được phát hiện và cắt bỏ sớm, tỉ lệ tử vong do ung thư đại, trực tràng giảm xuống đáng kể. Vì những lý do đó, việc tầm soát để phát hiện sớm và loại bỏ kịp thời polype này cần thực hiện rộng rải trong nhân dân.

Gần đây, máy MSCT 16 lát cắt cho phép ghi lại hình ảnh toàn bộ vùng bụng với các lát cắt mỏng 1mm. Nhờ phần mềm điện toán, dữ liệu sẽ được xử lý và tái tạo hình ảnh toàn bộ bề mặt khung đại tràng. Hình ảnh thu được giống như trong nội soi đại tràng. Vì vậy, kỹ thuật này còn được gọi là nội soi đại tràng ảo hay CT nội soi đại tràng. Ngoài ra, phương pháp này còn đánh giá được thành ruột, cũng như toàn bộ các cơ quan trong ổ bụng.

Nội soi đại tràng ảo là thủ thuật không xâm lấn, không cần sử dụng ống soi, không gây đau. Đây là phương tiện hữu ích trong tầm soát phát hiện polype đại tràng với độ chính xác 90% và trong chẩn đoán ung thư sớm đại, trực tràng với độ chính xác là 100% .

Ai sẽ được MSCT 16 lát cắt tầm soát ung đại tràng ?

1. Trên 30 tuổi, có thể thấp hơn nếu có tiền căn gia đình về bệnh lý u hay polype đại tràng.
2. Rối loạn tiêu hóa kéo dài và tái phát.
3. Tiêu ra máu chưa xác định nguyên nhân và tái phát.
4. Bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm đại tràng mạn nhưng không đáp ứng điều trị đều được tầm soát đại tràng bằng MSCT 16. Bệnh nhân đã được cắt polype đại tràng hoặc đã được chẩn đoán polype đại tràng mà chưa phẫu thuật .
5. Bất cứ những ai muốn kiểm tra đại tràng, đều có thể chụp MSCT 16 mà không cần chỉ định của Bác sĩ.

4- CHẨN ĐOÁN
MSCT 16 có thể dùng để xác định chẩn đoán bệnh nào cần đến hình ảnh có chất lượng cao. Nhờ độ phân giải cao, cho phép khảo sát toàn bộ cơ thể với các hình ảnh chi tiết và rõ nét, giúp cho việc chẩn đoán các bệnh lý trong cơ thể được chính xác và rõ ràng.

MSCT 16 giúp chẩn đoán các bệnh lý như ung thư, viêm, nhiểm trùng, áp xe. . .v v . Ngoài ra, với ưu điểm thời gian ghi hình nhanh, có thể ghi hình các cơ quan chuyển động như tim và mạch máu. Do vậy, cho đến nay MSCT 16 là kỹ thuật chẩn đoán tốt nhất các bệnh lý tim và mạch máu như dị dạng mạch máu, phình động mạch hoặc hẹp lòng động mạch.

Chụp CT động mạch vành là ứng dụng của máy MSCT 16 để chụp hình động mạch vành ở tim nhằm xác định mức độ hẹp lòng động mạch. Kỹ thuật này cho hình ảnh trung thực, ít ảnh giả và giúp khảo sát các mạch máu nhỏ đến 1.5mm. Độ chính xác của phương pháp được báo cáo là đạt đến 97% . Ngoài ra, MSCT 16 còn cho biết bản chất các mãng xơ vữa trên thành động mạch. Đây là cơ sở phân loại nguy cơ mắc bệnh đồng thời giúp đánh giá và theo dõi điều trị ngăn ngừa hẹp động mạch vành.

Chụp cắt lớp CT và mức nhiễm phóng xạ

Hằng năm, tại Úc có thêm nhiều người yêu cầu được chụp cắt lớp (CT). Kết quả chụp CT cung cấp nhiều thông tin giá trị giúp định hướng điều trị y tế. Tuy nhiên, phương pháp này cũng dẫn đến một lượng nhiễm xạ nhất định. Điều đó có đáng lo ngại hay không?

Quả là một điều kì diệu trong y học hiện đại khi ai đó bị bệnh, bác sĩ không cần mổ ra mới xác định được vấn đề gì đang diễn ra trong cơ thể. Giờ đây, bác sĩ có thể chụp ảnh các bộ phận trong cơ thể để chẩn đoán bệnh.

Lĩnh vực kỹ thuật hình ảnh y học khởi đầu với việc phát hiện ra tia X vào cuối những năm 1880. Tuy nhiên, một trong những tiến bộ vượt bậc xuất hiện vào thập kỷ 1970 khi phương pháp chụp CT xuất hiện.

Trong khi chụp X-quang chỉ có thể chụp một hình ảnh, thì với chụp CT, các bác sĩ có được nhiều hình ảnh X-quang mặt cắt ngang cơ thể chúng ta.

Phương pháp này cho phép các bác sĩ nhìn rõ các bộ phận, xương và mạch máu trong cơ thể, qua đó chẩn đoán các tình trạng sức khỏe như bệnh ung thư, chấn thương, tổn thương và những dấu hiệu bất thường trong hộp sọ cũng như ổ bụng.

Phương pháp này vừa nhanh vừa không gây đau đớn. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi việc sử dụng phương pháp chụp CT ngày càng gia tăng mỗi năm ở Úc cũng như nhiều nước khác.

Mặc dù vậy, chụp cắt lớp cũng có mặt trái: cơ thể sẽ bị nhiễm lượng phóng xạ cao hơn so với phương pháp chụp X-quang truyền thống.

Như tất cả mọi người đều biết, mức phơi nhiễm phóng xạ cao có liên quan tới nguy cơ mắc bệnh ung thư gia tăng. Vậy khi ngày càng nhiều người sử dụng phương pháp chụp CT, chúng ta có nên lo lắng hay không?

Hiểu rõ hiện tượng phơi nhiễm phóng xạ

Mỗi năm, con người phơi nhiễm với khoảng 1,5 millisievert (mSv) bức xạ ‘nền’, từ phóng xạ của chính Trái đất và từ vũ trụ tỏa ra.

Nếu đem so sánh, trong một lần chụp CT, con người tiếp xúc với lượng phóng xạ dao động từ 1 mSv tới 15 mSv.

Lượng phóng xạ của mỗi lần chụp CT khác nhau phụ thuộc vào bộ phận cơ thể được chụp và kỹ thuật áp dụng.

Theo ước tính, một lần chụp CT vùng ngực tương đương với ít nhất 100 lần chụp X-quang thông thường.

Mặc dù tỉ lệ này dường như khá lớn, nhưng nó chỉ dẫn đến mức gia tăng nguy cơ ung thư rất nhỏ trong suốt vòng đời – trên thực tế tăng khoảng 0,04%, theo ước tính của Trường Cao đẳng Hoàng gia Đào tạo Chuyên gia Chẩn đoán Hình ảnh Úc và New Zealand.

Như vậy, nếu một người có 30% nguy cơ mắc bệnh ung thư trong suốt cuộc đời, thì tỉ lệ này tăng lên 30,04% sau một lần chụp CT.

Tuổi tác và giới tính cũng là yếu tố cần xem xét trong tỉ lệ này. Ví dụ, mô vú ở phụ nữ và tế bào ‘non’ ở trẻ em nhạy cảm với phóng xạ hơn.

Bệnh nhân trẻ tuổi có nguy cơ ung thư cao hơn người già bởi tác động của việc phơi nhiễm phóng xạ phải mất một thời gian dài (nhiều thập kỷ) mới xuất hiện.

Rủi thay, tất cả các con số tính toán này đều dựa chủ yếu vào dữ liệu từ những người sống sót sau các vụ nổ bom nguyên tử chứ không phải những người đã chụp CT và X-quang.

Do vậy, hiện có những ý kiến trái chiều về mức độ nguy cơ do phơi nhiễm phóng xạ mức thấp.

Tiến sĩ Matthew Andrews, Chủ tịch Trường Cao đẳng Hoàng gia Đào tạo Chuyên gia Chẩn đoán Hình ảnh Úc và New Zealand, giải thích rằng ở mức độ phơi nhiễm phóng xạ thấp, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những giả định về mức độ nguy cơ.

“Bằng chứng hiện có cho thấy, nguy cơ mắc bệnh ung thư gia tăng ở mức phơi nhiễm cao. Tuy nhiên, với liều lượng thấp hơn, khó xác định được mức độ nguy cơ hơn”, Tiến sĩ Matthew Andrews nhận định.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Andrews, chưa chắc chắc không có nghĩa là chúng ta bỏ qua nguy cơ tiềm ẩn.

“Khi tình hình còn chưa xác định, chúng ta nên có thái độ là cần giảm thiểu mức phơi nhiễm phóng xạ chứ không nên tiếp xúc với những nguy cơ không cần thiết,” ông Andrews khuyến cáo.

Cải thiện tình hình

Giáo sư Lâm sàng Richard Mendelson, Giám đốc Chương trình Đào tạo Chẩn đoán Hình ảnh Tây Úc tại Perth, cho rằng việc giảm thiểu phơi nhiễm phóng xạ là phần rất quan trọng trong quy trình đào tạo các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh.

Nhờ những tiến bộ trong công nghệ và kỹ thuật hình ảnh, lượng phóng xạ trong chẩn đoán hình ảnh liên tục được giảm xuống.

Trên toàn thế giới, phương pháp chụp cộng hưởng từ (MRI) và siêu âm – hai phương pháp không sử dụng phóng xạ – ngày càng được sử dụng nhiều như giải pháp thay thế cho chụp CT trong những trường hợp phù hợp.

Chính phủ Liên bang Úc mới đây đã thay đổi quy định ngân sách Chăm sóc Y tế để phương pháp chụp cộng hưởng từ có chi phí thấp hơn và tất cả người bệnh dễ tiếp cận hơn.

Thậm chí hệ thống phác đồ điều trị từ các bác sĩ cũng thay đổi. Theo Tiến sĩ Andrews, các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh phản hồi lại cho các bác sĩ đa khoa trong trường hợp có thể áp dụng các xét nghiệm thay thế có mức tiếp xúc phóng xạ thấp hơn.

Thêm vào đó, cách tốt nhất để giảm tối đa mức phơi nhiễm là tránh chụp CT khi không cần thiết.

Hội đồng Chống Ung thư đã đưa ra ví dụ về những trường hợp không nhất thiết phải chụp CT:

• Khám các triệu chứng thông thường như đau lưng.
• Theo dõi lâu dài những bệnh nhân đã được điều trị ung thư thành công, hiện có tình trạng sức khỏe tốt và không có các triệu chứng bất thường.
• Cảnh báo bác sĩ thận trọng không để bị khiếu kiện do chẩn đoán sót bệnh ung thư ở những người không có các triệu chứng.

Mặc dù bác sĩ là người cuối cùng chỉ định chụp CT, nhưng cần lưu ý rằng áp lực từ bệnh nhân nhiều khi khiến bác sĩ đưa ra những yêu cầu xét nghiệm không phù hợp.

Nguy cơ và lợi ích

Trong khi bác sĩ và bệnh nhân có những bước tiến để giảm thiểu phơi nhiễm phóng xạ, các chuyên gia nhấn mạnh rằng chúng ta không nên ‘để trẻ sơ sinh vùng vẫy trong bồn tắm’.

Ông Mendelson cho rằng bệnh nhân không nên trì hoãn thực hiện xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh khi cần thiết.

“Nguy cơ với từng bệnh nhân do chụp CT rất nhỏ. Cần để từng bệnh nhân nhận thức được rằng lợi ích tiềm tàng lớn hơn nguy cơ”, ông Mendelson nói.

Ví dụ, ông Andrews cho rằng trong trường hợp bệnh nhân có nguy cơ bị ung thư phổi ở tình trạng có thể điều trị được, thì lợi ích của việc chụp CT quá rõ ràng. Phương pháp chẩn đoán này có thể khẳng định hoặc loại trừ nghi vấn ung thư.

“Nguy cơ bỏ sót chẩn đoán ung thư phổi lớn hơn nhiều so với nguy cơ nhiễm lượng phóng xạ nhỏ, thậm chí nếu kết quả chẩn đoán cho thấy bệnh nhân không mắc bệnh”, ông Andrews nhận định.

Hội đồng Chống Ung thư lưu ý them rằng nhiều bệnh nhân đã kéo dài sự sống hay nhiều trường hợp tử vong đã được ngăn chặn nhờ phương pháp chẩn đoán hình ảnh.

Khi có biểu hiện cần chụp CT hoặc xét nghiệm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác, dưới đây là một số câu hỏi và một số bước cần thực hiện.

• Yêu cầu bác sĩ chỉ định nêu vắn tắt nguy cơ và lợi ích, liệu xét nghiệm có giúp thay đổi phác đồ điều trị hay không.
• Hỏi bác sĩ có các xét nghiệm hay phương pháp thay thế sử dụng ít phóng xạ nhưng hiệu quả tương đương hay không.
• Lưu giữ thông tin về các đợt chụp chẩn đoán hình ảnh để thảo luận với bác sĩ. Tránh lặp lại các xét nghiệm không cần thiết.
• Thông báo cho bác sĩ trước khi chụp trong trường hợp bạn mang thai.
• Tự tìm hiểu thông tin bằng cách truy cập các trang web trực tuyến hữu ích.
• Nếu chưa chắc chắn, bạn có thể xin tư vấn của một bác sĩ kháca