Chứng đau nửa đầu

Có 3,567 lượt xem

Đau nửa đầu là một hội chứng thần kinh với những triệu chứng điển hình: thay đổi khả năng cảm nhận của các giác quan, đau đầu, và buồn nôn. Về mặt sinh lý, đau nửa đầu thường phổ biến ở phụ nữ hơn đàn ông. [1][2] Tiếng Anh là migraine thực chất được mượn từ tiếng Pháp cổ là migraigne (lúc đầu là “megrim”, nhưng đến năm 1777 được thay đổi theo tiếng Pháp đương đại). Từ tiếng Pháp đó được tạo thành từ cách phát âm thông dụng của từ Latin hemicrania, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp hemikrania, theo gốc tiếng Hy Lạp nghĩa là “nửa” và “sọ”. [3]

Đau nửa đầu điển hình thường chỉ ảnh hưởng một bên đầu, nhức và kéo dài từ 4 đến 72 giờ đồng hồ;[4] với những triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, sợ ánh sáng (nhạy cảm với ánh sáng hơn), và sợ âm thanh (nhạy cảm với âm thanh hơn).[5][6][7] Khoảng một phần ba người bị chứng đau nửa đầu cảm nhận được tiền triệu (‘aura’)—hình ảnh, mùi vị, hoặc một cảm nhận giác quan không bình thường báo hiệu cơn đau nửa đầu sắp diễn ra.[8]

Điều trị ban đầu là thuốc giảm đau để trị đau đầu, thuốc chống nôn nếu bị buồn nôn, và tránh các yếu tố gây đau đầu. Nguyên nhân của đau nửa đầu chưa rõ ràng; giả thuyết được chấp nhận phổ biến nhất là bệnh lý của hệ thống thần kinh sử dụng chất truyền đạt thần kinh serotonin. Có một số loại đau nửa đầu khác nhau, một số bắt nguồn từ thân não (với sự rối loạn vận chuyển ion canxi và kali) và một số là do di truyền.[9] Nghiên cứu các cặp song sinh cho thấy 60% đến 65% có sự ảnh hưởng của di truyền trong xu hướng phát triển bệnh đau nửa đầu.[10][11] Ngoài ra, thay đổi nồng độ hoóc môn cũng có liên quan đến đau nửa đầu: 75% bệnh nhân người lớn là phụ nữ, mặc dù tỉ lệ này ngang nhau đối với trẻ em nam và nữ tiền dậy thì; đau nửa đầu có xu hướng biến mất khi đang mang thai, nhưng một số phụ nữ lại bị đau nửa đầu nhiều hơn khi mang thai.[12]

Phân loại

Hiệp hội Quốc tế về Bệnh đau đầu (IHS) đã đưa ra hướng dẫn phân loại và chẩn đoán bệnh đau nửa đầu trong cuốn “Phân loại chuẩn quốc tế các rối loạn đau đầu, Tái bản” (ICHD-2).[14]

Theo như cuốn ICHD-2, có bảy loại đau nửa đầu (trong đó một số loại được phân loại nhỏ hơn):

Đau nửa đầu không có tiền triệu, hay đau nửa đầu loại thường, là các trường hợp đau nửa đầu không đi kèm tiền triệu (thay đổi cảm giác thị giác, xem dưới đây).
Đau nửa đầu có tiền triệu là các trường hợp đau nửa đầu đi kèm tiền triệu. Một số ít trường hợp có tiền triệu không bị đau đầu, hay có đau đầu nhưng không phải đau nửa đầu. Có hai nhóm khác là Đau nửa đầu ảnh hưởng bán thân di truyền và Đau nửa đầu ảnh hưởng bán thân không di truyền, trong đó bệnh nhân bị đau nửa đầu có tiền triệu đi kèm sự giảm khả năng vận động. Nếu hai người có họ hàng mật thiết cùng bị thì được coi là “di truyền”, nếu không thì được coi là “không di truyền”. Một nhóm khác là “đau nửa đầu liên quan đến động mạch nền”, trong đó đau đầu và tiền triệu đi kèm với hiện tượng khó nói, chóng mặt, ù tai, và một số triệu chứng có liên quan đến thân não, nhưng không bị giảm khả năng vận động.
Hội chứng định kỳ ở trẻ em thường là tiền thân của đau nửa đầu bao gồm nôn mửa theo chu kỳ (thỉnh thoảng có giai đoạn bị nôn mửa nhiều), đau bụng liên quan đến đau nửa đầu (đau bụng, thường đi kèm với buồn nôn), và chóng mặt cực điểm lành tính ở trẻ em (thỉnh thoảng bị chóng mặt).
Đau nửa đầu võng mạc liên quan đến đau nửa đầu đi kèm rối loạn thị giác hoặc thậm chí không nhìn thấy gì ở một bên mắt.
Biến chứng đau nửa đầu khi đau nửa đầu và tiền triệu kèo dài bất thường hoặc xảy ra nhiều bất thường, hoặc đi kèm co giật hay tổn thương não.
Khả năng đau nửa đầu khi các triệu chứng có một số đặc điểm của đau nửa đầu nhưng chưa đủ bằng chứng để kết luận là đau nửa đầu một cách chắc chắn.

Chẩn đoán

Trong cộng đồng hiện nay, bệnh đau nửa đầu chưa được chẩn đoán đầy đủ[15] và còn bị chẩn đoán sai.[16] Việc chẩn đoán đau nửa đầu không đi kèm tiền triệu có thể được thực hiện dựa theo tiêu chuẩn “5,4,3,2,1” của Hiệp hội Quốc tế về Bệnh đau đầu :

Nhiều hơn 5 cơn đau
Kéo dài 4 giờ đến 3 ngày
Có nhiều hơn 2 biểu hiện sau – ảnh hưởng một bên, có đặc tính nhức/đau co bóp, đau từ trung bình đến nặng, bị nặng thêm nếu hoạt động thể chất hoặc có xu hướng tránh hoạt động thể chất.
Có nhiều hơn 1 triệu chứng đi kèm sau – buồn nôn và/hoặc nôn mửa, chứng sợ ánh sáng, chứng sợ âm thanh

Đối với đau nửa đầu có tiền triệu, chỉ cần 2 cơn đau là đủ để kết luận bệnh.

Nếu có 4 trong 5 tiêu chuẩn trên nghĩa là tỉ lệ đúng dương tính để chẩn đoán đau nửa đầu là 24.[17]

Dựa vào sự mất khả năng cảm giác, buồn nôn và nhạy cảm, có thể chẩn đoán đau nửa đầu với:[18]

Độ nhạy là 81%
Độ đặc hiệu là 75%

Đau nửa đầu cần được phân biệt với các nguyên nhân gây đau đầu khác như Đau đầu cụm. Đó là kiểu đau đầu một bên rất nặng cảm giác như bị đâm. Thời gian một cơn đau thường là 15 phút đến 3 tiếng. Bắt đầu của một cơn đau thường xảy ra rất nhanh và đa số là không có dấu hiệu báo trước điển hình như đau nửa đầu.[cần dẫn nguồn]

Dấu hiệu và triệu chứng

Những dấu hiệu và triệu chứng thường khác nhau đối với mỗi bệnh nhân. Vì thế cảm giác của bệnh nhân trước, trong và sau mỗi cơn đau thường không được xác định chính xác. Có bốn giai đoạn phổ biến sau đây trong một cơn đau nửa đầu, nhưng không phải tất cả bệnh nhân đều trải qua. Ngoài ra, các giai đoạn và các triệu chứng trong từng giai đoạn cũng có thể khác nhau trong từng lần đau ở cùng một bệnh nhân:

Giai đoạn Triệu chứng sớm, có thể xảy ra vài giờ hoặc vài ngày trước khi bị đau đầu.
Giai đoạn Tiền triệu, xảy ra ngay trước cơn đau.
Giai đoạn đau.
Giai đoạn sau cơn đau.

Giai đoạn triệu chứng sớm

Các triệu chứng sớm xảy ra ở 40–60% bệnh nhân đau nửa đầu. Giai đoạn bao gồm: thay đổi tính khí, ngứa ngáy, trầm cảm hoặc tâm trạng phởn phơ, mệt mỏi, ngáp, ngủ rất nhiều, thèm ăn một món gì đó (ví dụ như sô cô la), căng cơ (nhất là cơ cổ), táo bón hoặc tiêu chảy, tiểu nhiều hơn, và các triệu chứng về phủ tạng.[19] Những triệu chứng này xảy ra trước cơn đau vài giờ hoặc vài ngày, và bệnh nhân cũng như người nhà có thể dựa vào kinh nghiệm để dự đoán trước cơn đau.
Giai đoạn tiền triệu

Đối với 20–30%[20][21] bệnh nhân đau nửa đầu có kèm tiền triệu, hiện tượng này là một hiện tượng thần kinh tập trung xảy ra trước hoặc trong một cơn đau đầu. Chúng xuất hiện dần dần từ 5 đến 20 phút và thường kéo dài không quá 60 phút. Giai đoạn đau đầu thường xảy ra trong vòng 60 phút sau giai đoạn tiền triệu, nhưng đôi khi là vài giờ sau, và thậm chí có thể không có cơn đau đầu. Triệu chứng của tiền triệu trong đau nửa đầu có thể là về hình ảnh, cảm giác hoặc vận động trong tự nhiên.[22]

Tiền triệu về thị giác là hiện tượng thần kinh phổ biến nhất. Đó là sự thay đổi về hình ảnh bao gồm những tia sáng lóe không định hình màu đen trắng hoặc thỉnh thoảng là những tia sáng có màu (chứng lóe sáng) hoặc sự hình thành của những đường zic zắc chói mắt (ám điểm chói lóa; thường được sắp xếp như lỗ châu mai của lâu đài, vì thế còn có tên là “hình ảnh pháo đài” hoặc tiếng Anh là “teichopsia”[cần dẫn nguồn]). Một số bệnh nhân mô tả hình ảnh mờ ảo giống như đang nhìn qua một lớp kính mờ hoặc dày, hoặc, trong một số trường hợp là hình ảnh đường hầm và mất hình ảnh một bên. Tiền triệu ở thần kinh xúc giác trong đau nửa đầu bao gồm rối loạn xúc giác ở tay và miệng, cảm giác kim châm ở bàn tay và cánh tay cũng như khu vực mũi miệng cùng bên. Rối loạn xúc giác lan tỏa lên cánh tay rồi lên vùng mặt, môi và lưỡi.

Những triệu chứng khác trong giai đoạn tiền triệu bao gồm ảo giác thính giác và khứu giác, chứng mất khả năng hiểu ngôn ngữ tạm thời, chóng mặt, cảm giác kiến bò và tê ở mặt và đầu chi, và xúc giác quá nhạy cảm.

Giai đoạn đau đầu

Kiểu đau nửa đầu điển hình thường là một bên, đau nhói, mức độ từ trung bình đến nặng và có thể bị nặng hơn khi hoạt động thể chất. Nhưng không phải lúc nào cũng có tất cả các biểu hiện đó. Cơn đau có thể ở cả hai bên khi mới bắt đầu hoặc bắt đầu ở một bên và dần chuyển sang cả hai bên, và thường đổi bên mỗi lần đau. Bắt đầu cơn đau thường từ từ. Cơn đau lên đến đỉnh điểm rồi lắng xuống và thường kéo dài từ 4 đến 72 giờ ở người lớn và 1 đến 48 giờ ở trẻ em. Tần suất các cơn đau rất khác nhau, từ những trường hợp chỉ bị vài lần trong đời cho đến những người bị vài lần một tuần, và trung bình bệnh nhân bị từ một đến ba lần một tháng. Mức độ đau cũng rất khác nhau tùy từng lần đau.

Cơn đau nửa đầu thường đi kèm với các biểu hiện khác. Buồn nôn xảy ra ở khoảng 90% bệnh nhân, và nôn mửa xảy ra ở khoảng 1/3 số bệnh nhân. Rất nhiều bệnh nhân bị quá nhạy cảm như bị chứng sợ ánh sáng, chứng sợ âm thanh, chứng sợ mùi và có xu hướng tìm khu vực tối và yên tĩnh. Cảm giác hình ảnh bị mờ, bị ngạt mũi, tiêu chảy, tiểu nhiều, tái xanh, hoặc đổ mồ hôi cũng có thể thấy trong giai đoạn đau đầu. Có trường hợp bị phù cục bộ ở da đầu và mặt, da đầu nhạy cảm, tĩnh mạch hoặc động mạch nổi lên ở vùng thái dương, bị căng cứng hoặc bị mềm ở vùng cổ. Mất khả năng tập trung và thay đổi cảm xúc cũng phổ biến. Đầu chi thường cảm thấy lạnh và ẩm ướt. Cũng có thể bị chóng mặt; trong một dạng đau nửa đầu điển hình gọi là đau nửa đầu tiền đình. Bị hoa mắt, chứ không phải chóng mặt thực sự ,[cần dẫn nguồn] và cảm giác choáng váng cũng có thể diễn ra.
Giai đoạn sau cơn đau

Bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi hoặc chán nản và đau đầu, nhận thức khó khăn, các triệu chứng về hệ tiêu hóa, thay đổi tính khí, và thấy yếu ớt.[23] Một số người lại cảm thấy khoan khoái, tỉnh táo lạ thường sau cơn đau, trong khi đó một số lại cảm thấy trầm cảm và phiền muộn. Thường thì một số triệu chứng nhỏ trong giai đoạn đau đầu vẫn tiếp tục, như chán ăn, sợ ánh sáng, và hoa mắt. Đối với một số bệnh nhân, ngủ từ 5 đến 6 tiếng có thể làm giảm cơn đau, nhưng đau đầu nhẹ vẫn có thể xảy ra khi người bệnh đứng dậy hoặc ngồi xuống quá nhanh. Những triệu chứng này có thể biến mất sau một buổi tối ngủ ngon, mặc dù không phải lúc nào cũng thế. Một số người có triệu chứng và sự hồi phục khác với người khác. [nghiên cứu chưa công bố?] Yếu tố kích hoạt cơn đau

Yếu tố kích hoạt cơn đau nửa đầu là bất kỳ yếu tố nào làm dẫn đến sự phát triển một cơn đau nửa đầu cấp tính. Các yếu tố kích hoạt có thể được chia thành các nhóm về hành vi, môi trường, yếu tố truyền nhiễm, thức ăn, hóa chất, hoặc hoóc môn. Trong ngôn ngữ ngành y, các yếu tố này còn được gọi là “yếu tố làm lắng đọng” (“precipitants”).

Ví dụ, Từ điển Bách khoa toàn thư Y học MedlinePlus, đưa ra danh sách các yếu tố kích hoạt cơn đau nửa đầu như sau:

Cơn đau nửa đầu có thể bị kích hoạt bởi:

Dị ứng
Ánh sáng mạnh, âm thanh lớn, hoặc một số loại mùi hoặc nước hoa nào đó
Stress về thể chất hoặc tinh thần
Thay đổi về giấc ngủ
Hút thuốc lá hoặc ngửi mùi thuốc lá
Bỏ bữa
Sử dụng đồ uống có cồn
Thay đổi trong Chu kỳ kinh nguyệt, sử dụng thuốc tránh thai, thay đổi hoóc môn trong thời kỳ tiền mãn kinh
Đau đầu căng thẳng
Sử dụng thức ăn có chứa tyramine (rượu vang đỏ, pho mát lâu ngày, cá xông khói, gan gà, quả vả, và một số loại đậu), Natri glutamat (MSG) hoặc muối nitrat (như trong thịt muối, xúc xích hoặc xúc xích salami)
Các loại thức ăn khác như sô cô la, các loại hạt, bơ lạc, quả bơ, chuối, các loại quả họ cam quýt, hành, các sản phẩm từ sữa, thức ăn muối hoặc lên men.
Đôi khi đau nửa đầu xuất hiện mà không có 1 “lý do” nào cả. Lý thuyết về yếu tố kích hoạt coi rằng việc tiếp cận với những yếu tố trong môi trường là tiền đề, hay kích hoạt cơn đau. Bệnh nhân đau nửa đầu từ lâu đã được khuyến cáo nên tự tìm ra những yếu tố kích hoạt đối với bản thân bằng cách tìm những mối liên quan giữa cơn đau với các yếu tố khác nhau và làm “nhật ký đau đầu” để ghi lại việc ăn uống vào thời điểm bị đau để tìm những mối tương quan để tránh ăn các món gây ra cơn đau. Cũng cần nói rằng một số yếu tố kích hoạt mang tính chất định tính, ví dụ như một ít sô cô la đen có thể không gây đau nửa đầu nhưng nửa phong sô cô la lại gây đau đối với một người bệnh. Ngoài ra, việc tiếp cận với nhiều hơn một yếu tố cùng một lúc cũng làm người bệnh dễ bị đau hơn là chỉ có một yếu tố tách biệt. Ví dụ như ăn và uống một số đồ ăn thức uống gây đau đầu trong một ngày nóng ẩm, trong khi đang cảm thấy stress và thiếu ngủ sẽ dễ dẫn đến đau nửa đầu, nhưng nếu chỉ ăn một thức ăn gây đau, trong một ngày mát trời, sau một đêm ngủ ngon và không bị stress có thể không gây đau đầu. Vì vậy, có thể khó tránh bị đau nửa đầu, nhưng nếu ghi lại nhật ký đau đầu chính xác và thay đổi lối sống phù hợp thì có thể làm cuộc sống của người bệnh tốt đẹp hơn. Một số yếu tố nói chung là không thể tránh khỏi, ví dụ như thời tiết hoặc cảm xúc, nhưng bằng cách hạn chế những yếu tố có thể tránh được, những yếu tố không tránh được còn lại sẽ có ảnh hưởng tới người bệnh ít hơn.

Thức ăn

Rất nhiều người bệnh đã giảm số lần đau nhờ xác định và tránh được những loại thức ăn có khả năng kích hoạt cơn đau. Tuy nhiên cần có những nghiên cứu rõ ràng hơn về điều này.

Gluten Ở một số bệnh nhân, đau nửa đầu giảm hoặc biến mất hẳn khi loại trừ gluten ra khỏi khẩu phần ăn. Đối với những người bị bệnh celiac hoặc các dạng bệnh dị ứng gluten khác, đau nửa đầu có thể là triệu chứng khi cơ thể không dung nạp gluten. Một nghiên cứu cho thấy những người bị đau nửa đầu bị bệnh celiac nhiều hơn gấp mười lần cộng đồng nói chung, và khẩu phần ăn không có gluten có thể làm giảm hoặc loại bỏ hẳn bệnh đau nửa đầu ở những bệnh nhân đó.[25] Một nghiên cứu khác trên 10 bệnh nhân có tiền sử đau đầu kinh niên và ngày càng bị nặng thêm hoặc kháng lại mọi phương pháp điều trị thì thấy là cả 10 người đều dị ứng gluten. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ cho thấy ở mỗi người đều bị viêm hệ thần kinh trung ương do phản ứng với gluten. 7/9 người trong số này khi thực hiện khẩu phần ăn không có gluten đều khỏi đau đầu hẳn.[26]

Aspartame Mặc dù một số giả thuyết cho rằng aspartame kích hoạt cơn đau nửa đầu và có một số bằng chứng nhỏ, nhưng vẫn chưa được y học chứng minh.[27]

MSG Natri glutamat hay MSG được ghi nhận là một yếu tố phổ biến gây đau nửa đầu (12%).[28] Trong một thử nghiệm sử dụng giả dược có kiểm soát (placebo-controlled trial), Natri glutamat (MSG) với liều lượng lớn (2.5 gram) ăn khi dạ dày trống rỗng có liên quan tới các triệu chứng xấu bao gồm đau đầu nhiều hơn nhóm dùng giả dược (placebo).[29][30] Nhưng một thử nghiệm lâm sàng khác lại không tìm ra sự khác biệt nào khi đưa thêm 3.5g MSG vào thức ăn.[31]

Tyramine Tổ chức Quốc gia về Bệnh Đau đầu của Hoa Kỳ có một danh sách các yếu tố thức ăn kích hoạt dựa trên giả thuyết về tyramine trong đó nêu rõ những loại thức ăn nào ăn được, những loại cần chú ý khi ăn và những loại cần tránh.[32] Tuy nhiên, một bài tổng hợp nghiên cứu vào năm 2003 đã kết luận rằng không có bằng chứng khoa học nào về tác động của tyramine đối với bệnh đau nửa đầu.[33]

Các yếu tố liên quan đến thức ăn khác Một bài tổng hợp nghiên cứu năm 2005 cho thấy những thông tin có được hiện nay về các yếu tố kích hoạt đau nửa đầu đa phần dựa vào đánh giá chủ quan của bệnh nhân.[27] Một số giả thuyết khi ngờ các yếu tố thức ăn gây đau nửa đầu, song một số khác cho rằng các yếu tố thức ăn chưa được chứng minh là có thể kích hoạt cơn đau nửa đầu. Các tác giả tổng hợp rằng việc cai nghiện đồ uống có cồn và cafein, và bỏ bữa ăn là những yếu tố kích hoạt cơn đau nửa đầu nhiều nhất có liên quan đến ăn uống, rằng việc mất nước cũng cần được chú ý hơn, và rằng một số bệnh nhân có dị ứng với rượu vang đỏ. Có rất ít và hầu như không có bằng chứng cho thấy sự liên quan giữa đau nửa đầu với các yếu tố kích hoạt mà mọi người vẫn nghĩ là phổ biến như sô cô la, pho mát, histamine, tyramine, các muối nitrat hoặc nitrit. Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng, mặc dù việc hạn chế ăn uống không tỏ ra hiệu quả trong điều trị đau nửa đầu, bệnh nhân vẫn nên tránh các yếu tố chắc chắn gây ra đau nửa đầu.

Thời tiết

Một vài nghiên cứu thấy rằng một số cơn đau nửa đầu được kích hoạt bởi thời tiết. Một nghiên cứu cho thấy 62% đối tượng nghiên cứu cho rằng thời tiết là một yếu tố nhưng chỉ 51% nhạy cảm với sự thay đổi thời tiết.[34] Trong số những người thực sự bị đau khi thời tiết thay đổi, các đối tượng thường chỉ ra một sự thay đổi thời tiết khác với thông tin thời tiết thực tế. Các yếu tố kích hoạt cơn đau nhiều nhất theo thứ tự như sau:

Nhiệt độ và độ ẩm. Độ ẩm cao đi kèm với nhiệt độ cao hoặc thấp là nguyên nhân lớn nhất.
Thay đổi đáng kể về thời tiết
Thay đổi áp suất không khí

Một nghiên cứu khác đánh giá ảnh hưởng của gió Lào đối với cơn đau nửa đầu, trong đó có nhiều bệnh nhận ghi nhận tỉ lệ bị đau tăng lên ngay trước và trong những đợt gió Lào. Số người bị đau đầu trong đợt gió Lào nhiều hơn trong những đợt gió mạnh. Có thể lý do là sự tăng cường lượng ion dương trong không khí.[35] Các yếu tố khác

Một nghiên cứu thấy rằng, đối với một số bệnh nhân ở Ấn Độ, gội đầu trong khi tắm cũng là một yếu tố kích hoạt cơn đau đầu. Tác động gây đau còn phụ thuộc vào việc làm tóc khô như thế nào sau khi gội.[36]

Một số loại nước hoa mạnh cũng được coi là một yếu tố kích hoạt, và bệnh nhân cũng nhạy cảm hơn đối với mùi hương do tác động của tiền triệu.[37] Sinh lý bệnh học

Đau nửa đầu từng được cho là rối loạn của riêng hệ thống mạch máu thôi. Nhưng hiện nay, lý thuyết về mạch máu chỉ được coi là nguyên nhân thứ cấp của rối loạn về não[38] và một số người không tin vào lý thuyết đó nữa.[39] Yếu tố kích hoạt có thể là một phần nguyên nhân, và cũng gây ra đa số các loại đau đầu khác.[40]

Tác động của đau nửa đầu có thể kéo dài vài ngày sau khi cơn đau chính thức kết thúc. Nhiều bệnh nhân cảm thấy đau ở vùng bị đau nửa đầu, và một số[ai nói?] cảm thấy ảnh hưởng đến khả năng suy nghĩ vài ngày sau cơn đau.

Đau nửa đầu có thể là triệu chứng của bệnh suy giáp vì cả hai đều có thể do rối loạn khi lo lắng.[41][42]

Các thụ thể sử dụng sắc tố melanopsin cũng có vai trò trong sự liên quan giữa đau nửa đầu với nhạy cảm ảnh sáng.[43] Lý thuyết Sự phân cực

Một hiện tượng gọi là ức chế lan tỏa trên vỏ não có thể là nguyên nhân của đau nửa đầu.[44] Trong hiện tượng ức chế lan tỏa trên vỏ não, hoạt động thần kinh bị ức chế trên một vùng vỏ não. Hiện tượng này làm giải phóng các yếu tố gây viêm dẫn đến việc kích thích gốc các dây thần kinh sọ, nhất là dây thần kinh sinh ba, là dây thần kinh truyền đạt các thông tin về cảm giác ở mặt và phần lớn đầu.

Quan điểm này được củng cố bởi công nghệ chụp ảnh não, nhờ đó thấy được đau nửa đầu chủ yếu là bệnh lý của não (thuộc thần kinh) chứ không phải của mạch máu (thuộc vận mạch). Sự phân cực lan tỏa (thay đổi điện não) có thể bắt đầu 24 giờ trước cơn đau, và cơn đau bắt đầu khi diện tích não bị phân cực là lớn nhất. Một nghiên cứu của Pháp năm 2007 đã sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp giải phóng positron Positron Emission Tomography (PET) và phát hiện rằng vùng dưới đồi có liên quan đáng kể tới những giai đoạn sớm của cơn đau.[45] Lý thuyết Mạch máu

Cơn đau bắt đầu khi mạch máu trong não co và dãn không thích hợp. Điều này có thể bắt đầu từ thùy chẩm, nằm phía đằng sau ở não, khi các động mạch co thắt. Dòng máu chảy bị thiếu hụt ở thùy chẩm gây ra tiền triệu ở một số bệnh nhân bởi vì vùng thị giác nằm ở thùy chẩm.[38][nguồn không đáng tin?][[ kể từ March 2009]]

Khi sự co thắt dừng lại và mạch máu dãn ra, chúng trở nên to quá. Thành mạch máu đang cứng trở nên mềm và thẩm thấu nhiều hơn làm một ít dịch thoát ra. Sự thoát dịch được cảm nhận bởi các thụ thể đau trong mạch máu ở các mô xung quanh. Để đáp ứng lại, cơ thể cung cấp cho vùng đó các hóa chất gây viêm. Mỗi lần tim đập, máu đi qua vùng nhạy cảm đó tạo ra một nhịp đau.[38][nguồn không đáng tin?][[ kể từ March 2009]]

Lý thuyết mạch máu hiện nay được coi là thứ cấp của rối loạn trong não.[38][nguồn không đáng tin?][[ kể từ March 2009]][46]

Lý thuyết Serotonin

Serotonin là một chất truyền đạt thần kinh, hay “hóa chất thông tin” giúp truyền thông điệp giữa các tế bào thần kinh. Nó giúp kiểm soát tình khí, cảm nhận đau, hành vi tình dục, giấc ngủ, cũng như sự co dãn mạch máu. Nồng độ serotonin thấp trong não có thể dẫn đến quá trình co dãn mạch máu và kích hoạt cơn đau nửa đầu.[38] Các thuốc loại Triptan kích hoạt các thụ thể serotonin để dừng cơn đau nửa đầu.[38] Lý thuyết thần kinh

Khi một số dây thần kinh nhất định hoặc một vùng trên thân não bị kích thích, cơn đau bắt đầu. Đáp ứng lại sự kích thích, cơ thể giải phóng các hóa chất gây viêm mạch máu. Các hóa chất đó tiếp tục gây kích thích thêm các dây thần kinh và mạch máu và gây ra đau. Hoạt chất P là một trong những hoạt chất được giải phóng khi bị kích thích lúc đầu. Cảm giác đau tăng lên khi hoạt chất P giúp chuyển dấu hiệu đau lên não.[38] Lý thuyết tổng hợp

Cả hai ảnh hưởng của mạch máu và thần kinh gây ra đau nửa đầu.

stress kích hoạt những thay đổi ở não
những thay đổi này làm giải phóng serotonin
mạch máu co dãn
các hóa chất bao gồm hoạt chất P kích thích dây thần kinh và mạch máu tạo ra phản ứng viêm thần kinh và đau[38]

Phòng bệnh

 

Các biện pháp dự phòng bệnh đau nửa đầu là một phần quan trọng trong điều trị bệnh này. Các biện pháp này có nhiều loại, bao gồm uống thuốc hay bổ sung dinh dưỡng, thay đổi lối sống như tăng cường thể dục và tránh các yếu tố kích hoạt cơn đau.

Mục tiêu của biện pháp dự phòng là để giảm tần số, mức độ đau và thời gian kéo dài của những cơn đau, đồng thời tăng hiệu quả của các biện pháp cắt cơn đau.[47] Một lý do nữa là để tránh việc đau đầu do dùng quá nhiều thuốc hay đau đầu ngược, một vấn đề khá phổ biến đối với các bệnh nhân đau nửa đâu. Người ta cho rằng hiện tượng này một phần là do dùng quá nhiều các loại thuốc giảm đau, và có thể dẫn tới đau đầu mãn tính hàng ngày.[48][49]

Nhiều biện pháp dự phòng khá hiệu quả: kể cả khi dùng giả dược, 1/4 bệnh nhân thấy giảm tần số đau đầu xuống một nửa hoặc hơn, và với các biện pháp thực sự thì con số này còn cao hơn nhiều.[50] Hiện nay có nhiều loại thuốc để phòng hoặc giảm tần số, thời gian và mức độ các cơn đau nửa đầu. Chúng cũng có thể làm giảm mức độ biến chứng của bệnh. Các thuốc phổ biến hiện nay là propranolol, atenolol, metoprolol, flunarizine, sodium valproate, topiramate. Nhưng cần uống ít nhất trong vòng 3 tháng.
Điều trị

Phương pháp điều trị truyền thống tập trung vào 3 điểm: tránh yếu tố kích hoạt, điều trị triệu chứng và các loại thuốc dự phòng. Bệnh nhân đau nửa đầu thường thấy các loại thuốc dự phòng không đạt được hiệu quả 100% hoặc đôi khi không có tác dụng gì. Các loại thuốc được coi là “hiệu quả” nếu nó có thể làm giảm 50% tần số hoặc mức độ cơn đau.[51]

Trẻ em và trẻ ở độ tuổi dậy thì được điều trị ban đầu bằng thuốc, nhưng cũng không nên xem nhẹ việc thay đổi chế độ ăn uống. Chỉ một việc đơn giản là bắt đầu làm nhật ký ăn uống để thay đổi thói quen ăn các loại thức ăn gây ra cơn đau như xúc xích, sô cô la, pho mát và kem có thể giúp loại bỏ các triệu chứng.[52]

Đối với những bệnh nhân đau nửa đầu mãn tính, các loại thuốc làm cắt cơn đau có thể dùng để điều trị, và thường có hiệu quả hơn nếu được uống sớm vì khi cơn đau đã bắt đầu thì hiệu quả sẽ giảm. Điều trị cơn đau ngay từ đầu giúp cắt cơn trước khi nó trở nên trầm trọng hơn, và góp phần làm giảm tần số của những cơn đau sau đó.[cần dẫn nguồn]

Paracetamol hay các loại thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs)

Điều trị bậc 1 đối với đau nửa đầu là các loại thuốc làm cắt cơn đau không cần kê đơn.

Đối với các loại thuốc chống viêm không steroid, Một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát đã thấy rằng naproxen có thể cắt cơn được khoảng 1/3 trường hợp, nghĩa là kém hơn hiệu quả của sumatriptan 5%.[53] Paracetamol (được gọi là acetaminophen ở Bắc Mỹ) có tác dụng với hơn một nửa số bệnh nhân đau nửa đầu nhẹ và trung bình trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát.[54] Một loại thuốc giảm đau nhẹ kết hợp với caffein cũng có tác dụng.[55] Trong một cơn đau nửa đầu, việc tiêu hóa ở dạ dày bị chậm lại dẫn đến cảm giác buồn nôn và giảm hấp thụ thuốc. Caffein có tác dụng làm giảm điều đó. Excedrin là một ví dụ, trong thuốc đó có sự kết hợp của aspirin với caffein. Caffein được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ công nhận là một loại thuốc trị đau đầu không cần kê đơn khi được kết hợp với aspirin và paracetamol.[56] Kể cả khi không dùng kết hợp thì caffein vẫn có tác dụng,[57][58] mặc dù nói chung bệnh nhân đau nửa đầu nên hạn chế dùng caffein.[58]

Bệnh nhân thường bắt đầu với paracetamol, aspirin, ibuprofen, và các loại thuốc giảm đau thông thường khác dành cho đau đầu căng thẳng. Các loại thuốc không cần kê đơn có thể làm giảm đau, nhưng thường không có tác dụng với nhiều người bệnh.

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã chứng nhận 3 sản phẩm đặc trị đau nửa đầu là: Excedrin Migraine, Advil Migraine, và Motrin Migraine Pain. Excedrin Migraine, như đã nhắc đến ở trên, là sự kết hợp giữa aspirin, paracetamol, và caffein. Cả Advil Migraine và Motrin Migraine Pain đều là thuốc chống viêm không steroid, với ibuprofen là thành phần hoạt chất duy nhất.[59] Thuốc giảm đau kết hợp với thuốc chống nôn

Thuốc chống nôn có thể giảm triệu chứng buồn nôn và ngăn nôn mửa, và vì thế không làm mất tác dụng của thuốc giảm đau bằng đường uống. Ngoài ra, một số thuốc chống nôn như metoclopramide là thuốc làm tăng nhu động ruột và làm tăng cường tiêu hóa trong dạ dày, vì khi đau nửa đầu, tiêu hóa trong dạ dày bị giảm sút. Ở Anh, có ba loại thuốc kết hợp giảm đau và chống nôn là: MigraMax (aspirin và metoclopramide), Migraleve (paracetamol/codeine để giảm đau, kết hợp với buclizine để chống nôn) và paracetamol/metoclopramide (gọi là Paramax ở Anh).[60] Loại thuốc này càng được uống sớm khi bắt đầu đau thì càng có tác dụng nhiều hơn.

Một số bệnh nhân cũng thuyên giảm khi uống các loại thuốc kháng histamin giảm đau có tác dụng chống buồn nôn như Benadryl ở Mỹ có chứa diphenhydramine (nhưng ở Anh lại chứa một thành phần khác không có tác dụng giảm đau).
Các chất hỗ trợ Serotonin

Sumatriptan và một số chất hỗ trợ thụ thể serotonin có chọn lọc có tác dụng rất tốt cho các trường hợp đau nửa đầu nặng hoặc những người không đáp ứng với các loại thuốc chống viêm không steroid[53] hoặc các loại thuốc không cần kê đơn.[54] Các loại thuốc Triptan là phác đồ tiếp theo trong điều trị đau nửa đầu và phù hợp với rất nhiều bệnh nhân điển hình. Chúng không hiệu quả lắm đối với những loại đau nửa đầu không điển hình hoặc rất trầm trọng, đau nửa đầu biến thái, hoặc đau nửa đầu trạng thái (liên tục).

Các chất ức chế tái hấp thu Serotonin (SSRIs) không được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận trong điều trị đau nửa đầu, nhưng được cho là hiệu quả trên lâm sàng.[51] Thuốc chống trầm cảm

Các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng từ lâu đã là một phương pháp điều trị dự phòng hiệu quả cao.[51] Tuy nhiên các loại thuốc này có thể dẫn đến một số tác dụng phụ không mong muốn như mấtngủ, tăng cường hoặc giảm sút khả năng tình dục. Các thuốc chống trầm cảm thuộc loại SSRI chưa được công nhận có hiệu quả như loại ba vòng trong điều trị dự phòng. Mặc dù không được FDA công nhận, các loại thuốc chống trầm cảm vẫn được kê đơn phổ biến trong điều trị đau nửa đầu.[51] Ngoài loại ba vòng và SSRI, thuốc chống trầm cảm nefazodone cũng có tác dụng trong dự phòng đau nửa đầu vì có hiệu quả kháng lại thụ thể 5-HT2A[61] và 5-HT2C[62][63] Nó có ít tác dụng phụ hơn amitriptyline, một loại thuốc chống trầm cảm ba vòng vẫn được sử dụng rộng rãi trong dự phòng đau nửa đầu. Các thuốc chống trầm cảm có lợi thế trong điều trị bệnh nhân đau nửa đầu song song với trầm cảm.[51] Các alkaloid trong cựa lúa mạch

Trước khi sumatriptan có mặt trên thị trường vào năm 1991, các chất chiết xuất từ cựa lúa mạch (tiếng Anh là ergot)(xem thêm ergoline) là loại thuốc uống chủ yếu dùng để cắt cơn đau.

Các loại thuốc từ cựa lúa mạch có thể sử dụng để điều trị dự phòng và cắt cơn đau, tuy nhiên do giá thành tương đối cao và các tác dụng phụ tích lũy nên chúng chỉ được dùng để cắt cơn đau. Nhưng loại thuốc viên ergotamine tartrate (thường kết hợp với caffein), mặc dù có hiệu quả cao và kéo dài (hơn triptan), lại không được ưa chuộng do vấn đề về ngộ độc ergotin. Việc hấp thu thuốc ergotamine bằng đường uống khá hiệu quả trừ khi bệnh nhân bị nôn. Loại thuốc ergotamine đặt hậu môn có hỗ trợ chống nôn (hoặc viên thuốc Ergostat đặt dưới lưỡi được sản xuất cho đến khoảng năm 1992). Các loại thuốc từ cựa lúa mạch bản thân chúng cũng gây buồn nôn nên các bệnh nhân cũng được khuyên nên dùng cả thuốc chống nôn khi lần đầu sử dụng các loại thuốc đó. Các thuốc viên có tỉ lệ Ergotamine-caffein 1/100 mg cố định (như Cafergot, Ercaf,…) rẻ hơn nhiều so với triptan, và được dùng khá phổ biến ở Châu Á và Rumani (Cofedol). Chúng khá hiếm ở Hoa Kỳ. Ergotamine-caffein không thể dùng thường xuyên vào buổi tối/đêm vì caffein làm mất ngủ. Ergotamine tartrate nguyên chất có hiệu quả cao cho các cơn đau vào buổi tối/đêm, nhưng rất hiếm hoặc không có trên thị trường Hoa Kỳ. Dihydroergotamine (DHE), bằng đường tiêm và hít, cũng có hiệu quả tương đương như ergotamine tartrate, nhưng đắt tiền hơn nhiều so với Cafergot.

Steroid

Dựa trên một phân tích tổng hợp gần đây, bổ sung một liều tiêm ven dexamethasone trong phương pháp điều trị chuẩn có khả năng giảm tái phát đau đầu tới 26%.[64] Các loại chất khác

Nếu các loại thuốc không cần kê đơn không có tác dụng, hoặc nếu triptan quá đắt, nhiều bác sĩ sẽ kê thuốc Fioricet hoặc Fiorinal, là sự kết hợp giữa butalbital (một barbiturate), paracetamol (trong Fioricet) hoặc axit acetylsalicylic (hay aspirin trong Fiorinal), và caffein. Mặc dù nguy cơ bị nghiện thấp, sử dụng butalbital hàng ngày có thể tạo thành thói quen, và nó cũng có thể dẫn đến đau đầu ngược. Các thuốc chứa barbiturate thường không phổ biến ở Châu Âu.

Amidrine, Duradrin, và Midrin- là sự kết hợp của paracetamol, dichloralphenazone, và isometheptene – thường được kê đơn trong đau nửa đầu. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy những loại thuốc này tốt hơn sumatriptan trong điều trị đau nửa đầu.[65]

Thuốc chống nôn cần phải dùng theo đường đặt hậu môn hoặc tiêm trong trường hợp bị nôn nhiều.

Gần đây người ta cũng thấy rằng các peptid liên quan đến gen calcitonin (CGRPs) có vai trò trong bệnh lý học của cơn đau nửa đầu khi triptan cũng giảm hoạt tính. Các chất kháng thụ thể CGRP như olcegepant và telcagepant đang được nghiên cứu cả trong thí nghiệm và trong lâm sàng trong điều trị đau nửa đầu.[66] Trạng thái đau nửa đầu liên tục

Trạng thái đau nửa đầu liên tục là trường hợp đau kéo dài hơn 72 tiếng, và thời gian khỏi đau giữa các cơn đau cũng không quá 4 tiếng đồng hồ. Trạng thái đau nửa đầu liên tục thường rất dai dẳng đối với các bệnh nhân ngoại trú.

Điều trị trạng thái đau nửa đầu liên tục bao gồm điều trị các triệu chứng song song (nghĩa là ổn định lại những rối loạn về dịch và điện giải do chán ăn và buồn nôn/nôn gây ra), và tiêm các loại thuốc để cắt cơn đau đầu.

Mặc dù có rất nhiều báo cáo về việc chữa trị các trường hợp trạng thái đau nửa đầu liên tục, phác đồ điều trị bậc một là truyền dịch, metoclopramide, và triptan hoặc DHE.[67]

Điều trị bằng thảo dược

Loại thảo dược bổ sung feverfew (thường được dùng để dự phòng đau nửa đầu, xem dưới đây) được tung ra thị trường bởi GelStat Corporationnhư một loại thuốc cắt cơn đau nửa đầu không cần kê đơn, dùng ngậm dưới lưỡi kết hợp với gừng.[68] Một thử nghiệm mở (do GelStat trả tiền) cho thấy nó có khả năng hiệu quả trong điều trị ,[69] nhưng chưa có nghiên cứu khoa học thực sự nào chứng minh điều đó. Cannabis ngoài tác dụng dự phòng còn có khả năng làm giảm đau khi mới bắt đầu cơn đau.[70]

Thủ thuật trên động mạch thái dương nông

Một số thủ thuật áp dụng trên động mạch thái dương nông như thắt động mạch, áp lạnh động mạch có tác dụng làm hủy các sợi giao cảm quanh động mạch này.[71].
Các nghiên cứu so sánh

Khi so sánh hiệu quả cắt cơn đau của các loại thuốc trên, một thử nghiệm sử dụng giả dược có kiểm soát vào nằm 2004[72] cho thấy sử dụng liều cao axit acetylsalicylic (1000 mg), sumatriptan 50 mg và ibuprofen 400 mg có hiệu quả tương đương nhau, mặc dù sumatriptan có ưu thế hơn do cắt hoàn toàn cơn đau và các triệu chứng liên quan. Cần chú ý là 50mg sumatriptan không phải là liều kê đơn phổ biến (100mg), nên cũng không so sánh hết được.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát, do nhà sản xuất thuốc tài trợ, thấy rằng sự kết hợp sumatriptan 85 mg và Natri naproxen 200 mg tốt hơn là dùng riêng từng loại thuốc đó.[53]

Gần đây, người ta cũng thấy rằng sự kết hợp sumatriptan 85 mg và Natri naproxen 500 mg hiệu quả cao và dung nạp tốt trong phác đồ can thiệp sớm đối với các cơn đau cấp tính. Hiệu quả cắt cơn đáng kể của sumatriptan/naproxen có thể thấy khá sớm (sau 30), kéo dài khoảng 1 tiếng, và còn giữ được sau đó 2 đến 24 tiếng. Ở giờ thứ 2 đến 4, sumatriptan/naproxen cũng làm giảm đáng kể tỉ lệ các triệu chứng liên quan đến đau nửa đầu điển hình (buồn nôn, sợ ánh sáng, và sợ âm thanh) và không điển hình (đau cổ và tăng áp/đau ở xoang).[73] Tiên lượng
Nguy cơ về tim mạch

Nguy cơ đột quỵ có thể tăng từ 2 đến 3 lần đối với người bị bệnh đau nửa đầu. Những bệnh nhân trẻ tuổi và phụ nữ dùng biện pháp tránh thai tác động tới hoóc môn có khả năng nguy cơ.[74] Cơ chế liên hệ chưa rõ ràng, nhưng các rối loạn mạch máu não mãn tính có thể liên quan. Phụ nữ có tiền triệu có nguy cơ đột quỵ gấp đôi các bệnh nhân khác không có tiền triệu và phụ nữ không bị đau nửa đầu.[74][75] Bệnh nhân đau nửa đầu có nguy cơ đột quỵ do cả đông máu lẫn xuất huyết cũng như những cơn thiếu máu não tạm thời.[76] Trong một nghiên cứu của Women’s Health Initiative, tỉ lệ chết do nguyên nhân tim mạch ở bệnh nhân có tiền triệu cũng cao hơn, nhưng cần có thêm nghiên cứu để khẳng định điều này.[75][77]

Dịch tễ học

Tỉ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi và giới tính

Đau nửa đầu là một bệnh rất phổ biến, ảnh hưởng 12–28% dân số ở bất cứ một giai đoạn nào trong cuộc sống.[1] Tuy nhiên, con số này — tỉ lệ bệnh trong cả cuộc đời — không cho thấy một bức tranh rõ ràng về số người đang bị bệnh tại một thời điểm nhất định nào đó. Vì thế, gánh nặng bệnh đau nửa đầu thường được đánh giá dựa trên tỉ lệ bệnh trong một năm — là số bệnh nhân có nhiều hơn 1 cơn đau trong năm trước. Con số thứ ba giúp làm rõ bức tranh này là tỉ lệ mắc mới — là số cơn đau xuất hiện lần đầu tiên ở một lứa tuổi nhất định và giúp đánh giá diễn biến bệnh tăng hay giảm theo thời gian như thế nào.

Dựa trên các kết quả của một số nghiên cứu, tỉ lệ bệnh trong một năm là khoảng từ 6–15% ở đàn ông trưởng thành và từ 14–35% ở phụ nữ trưởng thành .[1] Con số này thay đổi theo lứa tuổi rất nhiều: khoảng 4–5% trẻ em dưới 12 tuổi bị đau nửa đầu, không có sự khác biệt nhiều lắm giữa con gái và con trai.[78] Tỉ lệ mắc mới tăng rất nhanh ở con gái sau khi dậy thì,[79][80][81] và tiếp tục tăng khi trưởng thành.[82] Đến khi bắt đầu độ tuổi trung niên, khoảng 25% phụ nữ đã từng bị đau nửa đầu ít nhất 1 lần một năm, so với tỉ lệ <10% ở nam giới.[1][83] Sau khi mãn kinh, các cơn đau ở phụ nữ giảm đáng kể, và cho đến độ tuổi trên 70 thì số lượng bệnh nhân nam và nữ lại xấp xỉ nhau, với tỉ lệ bệnh trở lại khoảng 5%.[1][83]

Ở mọi lứa tuổi, đau nửa đầu không có tiền triệu phổ biến hơn có tiền triệu, với tỉ lệ trong khoảng từ 1.5:1 đến 2:1.[84][85] Các số liệu về tỉ lệ mắc mới cho thấy các cơn đau ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhiều hơn chủ yếu là các cơn đau nửa đầu không có tiền triệu .[84] Vì thế ở lứa tuổi tiền dậy thì và sau mãn kinh, đau nửa đầu có tiền triệu có phần phổ biến hơn lứa tuổi từ 15–50.[82][86]

Có mối liên hệ mật thiết giữa tuổi, giới tính và các loại đau nửa đầu.[87]

Sự khác nhau về tỉ lệ bệnh giữa các vùng địa lý khác nhau không thực sự đáng kể. Các nghiên cứu cho thấy ở Châu Á và Nam Mỹ, tỉ lệ bệnh tương đối thấp,[88][89] nhưng cũng không vượt ra ngoài khoảng giá trị của Châu Âu và Bắc Mỹ.[1][83]

Tỉ lệ mắc mới của bệnh đau nửa đầu có liên quan đến tỉ lệ mắc bệnh động kinh trong các gia đình, tỉ lệ đau nửa đầu cao gấp đôi ở những người có người thân bị động kinh, và càng phổ biến hơn ở những bệnh nhân động kinh.[90] Lịch sử

Thuật khoan xương sọ là thủ thuật khoan một lỗ vào sọ có chủ ý và (thường) không gây chết người, được thực hiện khoảng 9000 năm trước.[91] Một số học giả tranh cãi rằng thủ thuật mạnh tay đó đã được dùng để chữa đau nửa đầu, dựa trên các tranh vẽ trên hang đá[92] và thực tế nó “đã từng” là một phương pháp chữa trị đau nửa đầu vào thế kỷ 17 ở Châu Âu.[91][93] Một văn bản đầu tiên có những mô tả giống với bệnh đau nửa đầu là Bệnh sử Ebers, được viết vào khoảng 1200 trước công nguyên bằng cổ ngữ Ai Cập.[91]

Vào năm 400 trước công nguyên, Hippocrates đã mô tả hiện tượng tiền triệu về thị giác diễn ra trước cơn đau nửa đầu và có thể khỏi khi bị nôn. Vị bác sĩ thời Hy Lạp cổ đại Aretaeus vùng Cappadocia được coi là “người khám phá” ra bệnh đau nửa đầu vì những mô tả của ông từ thế kỷ thứ 2 về triệu chứng đau một bên đầu đi kèm với nôn mửa, với những giai đoạn không bị đau giữa các cơn đau.

Vị bác sĩ thời La Mã cổ đại Galenus vùng Pergamon đã dùng từ “hemicrania” (nửa đầu), chính là nguồn gốc của từ tiếng Anh của đau nửa đầu là “migraine”. Ông ta nghĩ rằng có sự liên hệ giữa dạ dày và não vì triệu chứng buồn nôn và nôn mửa thường đi kèm với cơn đau. Để chữa trị đau nửa đầu, vị bác sĩ Ả Rập Abulcasis gốc Andalusian, còn có tên là Abu El Qasim, đã đưa ra cách đặt một miếng kim loại nóng lên đầu hoặc đặt một miếng tỏi vào một vết cắt ở vùng thái dương.

Vào thời Trung Cổ, bệnh đau nửa đầu đã được coi là một bệnh lý gián đoạn và được chữa trị bằng nhiều cách: dùng miếng kim loại nóng, lấy máu, và thậm chí ma thuật[cần dẫn nguồn]. Các học trò của Galenus cho rằng đau nửa đầu là do quá nhiều yếu tố “mật vàng” (là một trong số 4 yếu tố cấu thành nên cơ thể con người theo y học thời Hy Lạp và La Mã cổ đại). Ebn Sina (Avicenna) mô tả bệnh đau nửa đầu trong cuốn sách “El Qanoon fel teb” của ông là “… các cử động nhỏ, ăn và uống, và âm thanh kích thích cơn đau… bệnh nhân không thể chịu được tiếng nói chuyện và ánh sáng. Anh ta muốn nghỉ một mình trong bóng tối.” Abu Bakr Mohamed Ibn Zakariya Râzi ghi nhận mối liên hệ giữa bệnh đau nửa đầu với các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của phụ nữ, “…Và những cơn đau như vậy có thể thấy sau khi sinh nở hay nạo phá thai hoặc trong thời gian mãn kinh và đau kinh.”

Cuốn Bibliotheca Anatomica, Medic, Chirurgica, xuất bản tại Luân Đôn năm 1712, có mô tả năm loại đau đầu chính, bao gồm “Megrim”, chính là đau nửa đầu điển hình. Graham và Wolff (1938) đã xuất bản bài báo nhằm khuyến khích sử dụng ergotamine để điều trị đau nửa đầu. Sau đó vào thế kỷ 20, Harold Wolff (1950) đã xây dựng phương pháp thí nghiệm để nghiên cứu đau nửa đầu, củng cố lý thuyết mạch máu gây đau nửa đầu, và sau đó bị lý thuyết thần kinh làm lung lay.

Phần lớn nạn nhân của chứng đau nửa đầu là phụ nữ.

Đây là một dạng đau đầu rất đặc biệt, chiếm khoảng 10% dân số (tỷ lệ mắc ở nữ cao gấp 3 lần nam). Tuy chưa biết rõ nguyên nhân gây đau nửa đầu nhưng các nhà khoa học đã xác định được bệnh có yếu tố gia đình. Các vấn đề tâm thần kinh (căng thẳng, trầm cảm, lo âu…), rượu và một số chất trong thực phẩm có thể làm bệnh xuất hiện hoặc nặng thêm.

Bệnh đau nửa đầu thường xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên với từng cơn kéo dài 2-4 giờ (cũng có thể 1-2 ngày). Cơn đau chỉ khu trú ở một nửa đầu, đau giật giật theo nhịp mạch đập, mức độ từ vừa phải đến dữ dội, có thể nối tiếp từ cơn này đến cơn khác. Bệnh nhân có thể buồn nôn, nôn, sợ tiếng động và ánh sáng. Một số trường hợp (khoảng 10%) có vài triệu chứng báo trước cơn đau như dị cảm, rối loạn thị giác, rối loạn tiêu hóa…

Tần suất xuất hiện cơn đau nửa đầu có thể là 1-2 lần/tháng, nhưng cũng có thể cao hơn: 4-5 lần/tháng. Nguyên nhân dẫn đến cơn đau chính là sự co rồi giãn mạch máu não (do tăng chất trung gian hóa học serotonin hoặc sự tích tụ ion canxi trong tế bào thần kinh).

Trong chứng đau nửa đầu, bệnh nhân được dùng thuốc với 2 mục đích: điều trị và dự phòng các cơn đau.

1. Điều trị cơn đau đầu: Đối với các thể nhẹ, cơn đau xảy ra thưa, nhanh chấm dứt, cường độ đau nhẹ hoặc vừa phải, bác sĩ sẽ chỉ định các thuốc giảm đau thông thường không steroid (aspirin, aidometacin, diclofenac…). Người có bệnh dạ dày được dùng paracetamol.

Với những thể nặng, cơn đau dày, có thể dùng thuốc sau:

– Naproxen: Là thuốc chống viêm giảm đau không steroid có tác dụng ức chế quá trình tổng hợp các prostaglandin, giúp hạ nhiệt, giảm cơn đau nửa đầu. Uống trong hoặc ngay sau bữa ăn. Không dùng cho người bị loét dạ dày, hen, phụ nữ có thai hoặc cho con bú, trẻ em dưới 15 tuổi.

– Gynergen: Làm mất cơn đau nửa đầu do làm co các nhánh ở động mạch cảnh ngoài, trị nhức đầu do vận mạch. Không dùng quá 7 ngày, nếu quá cần thì phải nghỉ mấy ngày mới được dùng tiếp. Thuốc có chống chỉ định với phụ nữ có thai, người bị bệnh tim, suy gan thận nặng, xơ cứng động mạch, suy tuần hoàn ngoại vi.

2. Dự phòng cơn đau: Áp dụng cho những người có cơn đau dày, thể nặng. Chọn một trong các thuốc có tác dụng trực tiếp đến những yếu tố tạo cơn đau:

– Dihydroergotamin: Có tác dụng duy trì thế cân bằng vận mạch ở não, kháng serotonin. Nó làm ổn định tính tăng phản ứng ở các mạch máu, nhất là ở hệ thống động mạch cảnh ngoài. Không dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, người suy gan, thận nặng.

– Pizotifen: Phụ nữ có thai, nam giới phì đại tuyến tiền liệt, người bệnh tăng nhãn áp (glaucome) không được dùng.

– Flunarizin: Ngăn chặn sự tích tụ ion canxi trong tế bào thần kinh, phòng đau nửa đầu. Chỉ dùng thuốc này khi đã được bác sĩ chuyên khoa thần kinh thăm khám, có chẩn đoán xác định và kê đơn.

Ngoài việc dùng thuốc, người bệnh đau nửa đầu cần có chế độ ăn uống thích hợp: kiêng rượu và thuốc lá (tránh hít phải khói thuốc), hạn chế bia, cà phê. Ngoài ra, bệnh nhân cần tránh những cơn căng thẳng về thần kinh; đảm bảo ngủ đủ (tối thiểu 7 giờ mỗi ngày), tập luyện thân thể đều đặn để giảm huyết áp và tăng cường tuần hoàn máu.

Bí quyết loại bỏ chứng đau nửa đầu

Đau nửa đầu (migrain) là một loại nhức đầu có nguyên nhân từ hiện tượng rối loạn vận mạch của hệ thống mạch máu não. Đặc điểm cơ bản của đau nửa đầu là đau đầu từng cơn, tái diễn có chu kỳ khá rõ.

Khởi đầu là cơn đau nửa đầu nhẹ, có thể một năm bị đau đầu vài ba lần, sau đó chu kỳ đau đầu sẽ xuất hiện nhiều hơn, vài tháng một lần hay vài tuần một lần hoặc xuất hiện hàng tuần. Khi những cơn đau nửa đầu xuất hiện nhiều, có nghĩa bệnh nhân đang ở tình trạng nặng và cần phải được điều trị tích cực.

Chứng đau nửa đầu có yếu tố gia đình. Trong gia đình nếu cha hoặc mẹ bị đau nửa đầu thì tỷ lệ các con bị bệnh là 44%, trong trường hợp cả cha và mẹ đều bị đau nửa đầu thì tỷ lệ bệnh của các con lên đến 70%!

&lt;a href=’http://ads.thesaigontimes.vn/www/delivery/ck.php?n=a22264ba&amp;amp;cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE’ target=’_blank’&gt;&lt;img src=’http://ads.thesaigontimes.vn/www/delivery/avw.php?zoneid=10&amp;amp;cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE&amp;amp;n=a22264ba’ border=’0′ alt=” /&gt;&lt;/a&gt;

Cơn đau thường được khởi phát bởi một số yếu tố sau: khi bệnh nhân bị stress, chịu những biến cố đột ngột xảy đến… Đau nửa đầu cũng có liên quan đến nội tiết, chính vì vậy cơn đau thường xảy ra trong chu kỳ kinh nguyệt, ở tuổi dậy thì, thời kỳ tiền mãn kinh, khi dùng thuốc ngừa thai… Nhưng cơn đau nửa đầu có khuynh hướng giảm hoặc biến mất trong giai đoạn có thai hay khi đã mãn kinh.

Đau nửa đầu cũng xuất hiện khi môi trường thay đổi, nắng nóng, mưa dầm, gió, ẩm thấp, thay đổi áp suất nhiệt đới, bão tố…; hoặc khi sống trong môi trường có nhiều tiếng ồn, mùi hóa chất, các chất gây dị ứng (phấn hoa, bụi…), khi ăn một số loại hải sản (tôm, cua, cá, sò, ốc…), chocolate, ca cao, pho mát, bơ hoặc uống một số thức uống có cồn như rượu (rượu vang đỏ), bia… Những loại thuốc như reserpin, nitroglycerin, histamin, thuốc ngừa thai, thuốc có nguồn gốc nội tiết tố… đều có thể gây ra những cơn đau nửa đầu.

Người bị đau nửa đầu thường có các triệu chứng báo hiệu trước. Nhờ những triệu chứng này, bệnh nhân có thể ước lượng được khi nào cơn nhức đầu sẽ đến để tích cực dùng thuốc phòng ngừa, nhờ vậy trong nhiều trường hợp cơn đau nửa đầu không xảy ra hoặc xảy ra một cách nhẹ nhàng. Những triệu chứng báo trước cơn đau nửa đầu rất đa dạng, bao gồm các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như chướng bụng, đầy hơi, chán ăn hoặc phàm ăn; thay đổi tính tình đột ngột như rơi vào trạng thái trầm cảm, lo âu, hoặc ngược lại, thể hiện một trạng thái hưng phấn như vui vẻ thái quá, hăng hái làm việc, nói nhiều…

Đến giai đoạn toàn phát sẽ xuất hiện cơn đau đầu kịch phát với cường độ dữ dội. Vị trí đau thường ở một bên đầu, vùng trán, hố mắt hay thái dương, đôi khi cơn đau lan ra vùng chẩm. Cơn đau đầu có thể luân phiên khi đau bên phải, khi đau bên trái, tuy nhiên đến giai đoạn cuối, cơn đau lại trở về khu trú ở một bên đầu. Lúc này cơn đau rất dữ dội, đau từng cơn, đau như xoắn vặn, siết chặt, đau dạng đập (theo nhịp tim), cơn đau cũng tăng lên khi vận động, khi gặp ánh sáng, tiếng động, khi hít phải một số mùi khó chịu như mùi thuốc lá, thuốc chữa bệnh, một số mùi của thức ăn…

Một cơn đau đầu điển hình thường kéo dài từ 4-24 giờ, một số trường hợp nặng có thể kéo dài đến 72 giờ hoặc lâu hơn nữa. Những triệu chứng đi kèm với cơn đau nửa đầu thường gặp như buồn nôn, nôn mửa (đôi khi nôn mửa dữ dội), sợ tiếng động, sợ gió, sợ ánh sáng, tính tình thay đổi. Bệnh nhân trở nên kích động, cáu gắt giận dữ hay rơi vào trạng thái trầm cảm, buồn rầu, lo âu, tuyệt vọng và đôi khi có ý định tự tử! Sau cơn đau đầu, nếu bệnh nhân nào có được một giấc ngủ sâu, kéo dài thì khi thức dậy sức khỏe sẽ được phục hồi gần như hoàn toàn. Nếu bệnh nhân không ngủ được hoặc ngủ không sâu, hiện tượng mệt mỏi, nhức đầu âm ỉ và nặng đầu sẽ kéo dài một vài ngày.

Diễn biến của bệnh đau nửa đầu tùy thuộc vào từng cá nhân, tuy nhiên nếu bệnh nhân không được điều trị tốt, bệnh đau nửa đầu sẽ ngày càng nặng hơn, xuất hiện với tần suất cao hơn (tính theo thời gian một tháng hoặc một tuần…). Khi cơn đau xuất hiện nhiều lần trong một tuần, tình hình của bệnh lúc này đã trở nên tồi tệ, phải tìm cách điều trị để giảm cơn đau và giảm tần suất đau càng sớm càng tốt, nếu không bệnh nhân sẽ không chịu nổi, dẫn đến suy sụp tinh thần và có thể xảy ra những biến chứng nguy hiểm!

Điều trị bệnh đau nửa đầu không đơn giản, bởi không có loại thuốc nào có thể điều trị lành bệnh hoàn toàn mà chỉ có những loại thuốc cắt cơn đau và phòng ngừa cơn đau mà thôi.

Trên thị trường hiện có một số loại thuốc cắt cơn đau nửa đầu tương đối hiệu quả, có thể dùng dưới dạng kết hợp với cafein hoặc kết hợp cùng lúc với cafein và thuốc ngủ. Điều quan trọng là bệnh nhân cần dùng thuốc cắt cơn đau thật sớm, khi mới có những triệu chứng ban đầu. Nếu để đến khi cơn đau đầu đã xuất hiện dữ dội thì những loại thuốc cắt cơn có hiệu quả rất hạn chế, đôi khi chẳng giúp được gì cho bệnh nhân.

Ngoài ra, bệnh nhân cần uống thêm một số thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm, các loại vitamin, các chất khoáng… Bệnh nhân có thể áp dụng những phương pháp không dùng thuốc của y học cổ truyền như châm cứu, xoa bóp, day bấm huyệt, chỉnh nắn cột sống… hay điều trị bằng dược thảo cũng đem lại những kết quả tốt và không có phản ứng độc hại.

Tuy nhiên, để có thể giảm tần suất tái phát cũng như giảm cường độ của cơn đau nửa đầu, bệnh nhân cần thay đổi lối sống, giảm áp lực công việc, tránh những căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày, cố gắng giữ cho mình có một tinh thần lạc quan yêu đời.

Bên cạnh đó, người bị chứng đau nửa đầu cũng cần điều chỉnh lại khẩu phần ăn, tránh ăn những thức ăn có thể gây khởi phát cơn đau nửa đầu (như đã trình bày ở trên), không uống nhiều rượu bia, trong trường hợp cơn nhức đầu bị khởi phát do uống rượu vang đỏ hoặc vang trắng thì người bệnh phải ngưng uống; chuyên cần tập luyện thể dục thể thao, yoga, thái cực quyền, dưỡng sinh, khí công, đặc biệt quan trọng là tập thư giãn và thiền định.

Thư giãn và thiền định có thể giúp cho quá trình căng thẳng của não được ức chế, dịu xuống, các mạch máu được thư giãn và dãn nở ra, chống lại hiện tượng rối loạn vận mạch não (co mạch) là nguyên nhân chính gây chứng đau nửa đầu…

Bệnh nhức nửa đầu có thể điều trị với kết quả tốt nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Khi bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc kết hợp với những phương pháp không dùng thuốc một cách chính xác, đồng thời được hướng dẫn để thay đổi lối sống, cách thức ăn uống, kiên trì tập luyện các phương pháp thích hợp thì chứng đau nửa đầu sẽ không còn là nỗi lo.

Bệnh và thuốc