2:30 pm - Tuesday October 21, 2014

Cây Tam Thất

Cây tam thất có tên khoa học là: Panax pseudoginseng Wall (Panax repens Maxim), thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae).


Cây tam thất còn có tên là: sâm tam thất, kim bất hoán, nhân sâm tam thất, điền thất.
Bộ phận dùng:

Tam thất trồng từ 3 đến 7 năm mới thu hoạch rễ củ để làm thuốc.
Đào rễ củ về, rửa sạch đất cát, cắt tỉa rễ con, phơi hay sấy đến gần khô, lăn xoa nhiều lần cho khô.
Rễ củ hình trụ hoặc khối, hình thù thay đổi, dài khoảng 1,5 – 4 cm, đường kính 1 – 2 cm. Mặt ngoài củ màu vàng xám nhạt, trên mặt có những nét nhăn nhỏ theo chiều dọc. Khi chưa chế biến có lớp vỏ cứng bên ngoài, khó bẻ và khó cắt. Có thể tách riêng khỏi phần lõi. Củ có mùi thơm nhẹ đặc trưng của tam thất. Rễ củ trồng lâu năm, củ càng to, nặng giá trị càng cao.

Căn cứ vào trọng lượng củ để phân loại khi thu mua:
Loại 1: 105-130 củ nặng 1 kg;
Loại 2: 160-220 củ nặng 1 kg;
Loại 3: 240-260 củ nặng 1 kg.

Thành phần hóa học
Rễ củ tam thất có các chất như Acid amin, hợp chất có nhân Sterol, đường, các nguyên tố Fe, Ca và đặc biệt là 2 chất Saponin: Arasaponin A, Arasaponin B. Saponin trong tam thất ít độc.

Công dụng
Rễ củ tam thất vị đắng ngọt, tính ấm vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng bổ huyết, cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết. Theo Dược điển Việt Nam, tam thất dùng trị thổ huyết, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết lỵ ra máu, lưu huyết, tan ứ huyết, sưng tấy, thiếu máu nặng, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ.

Theo tài liệu nước ngoài, tam thất có tác dụng giúp lưu thông tuần hoàn máu, giảm lượng Cholesterol trong máu, hạ đường huyết, kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, chống viêm tấy giảm đau… được dùng trong các trường hợp huyết áp cao, viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, đái tháo đường, các chấn thương sưng tấy đau nhức,viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương, chữa những người kém trí nhớ, ăn uống kém, ra mồ hôi trộm, lao động quá sức.

Gần đây, tam thất được dùng trong một số trường hợp ung thư (máu, phổi, vòm họng, tiền liệt tuyến, tử cung, vú ) với những kết quả rất đáng khích lệ. Một số bị huyết áp thấp do thiếu máu nặng cũng dùng tam thất được.
Phụ nữ có thai không được uống tam thất.
Chưa có tài liệu nào nói đến việc dùng hoa tam thất nhưng có thể dùng hoa tam thất như một loại trà. Khả năng chống bệnh cao huyết áp của hoa tam thất cũng chưa được chứng minh

Liều lượng, cách dùng:
Theo Dược điển Việt Nam, liều lượng uống từ 4 đến 5g mỗi ngày; theo tài liệu nước ngoài lại ghi uống từ 6 – 10 g mỗi ngày.
Một số trường hợp bệnh nhân ung thư dùng từ 10 – 20 g mỗi ngày chia làm 4 đến 5 lần uống.
Tam thất dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dạng bột, dùng ngoài có tác dụng cầm máu tại chỗ.
Người ta dùng tam thất để chữa ung thư bằng cách lấy bột sống uống bằng thìa nhỏ chiêu với nước lọc nguội hoặc dùng dạng thái lát ngậm nhai rồi nuốt. Trên thực tế một số người nhai tam thất sống đã bị rộp niêm mạc miệng, vì vậy có thể dùng bột hoặc thái lát tam thất hãm với nước sôi uống cả nước nhai cả bã vừa đơn giản giữ được hương vị, hoạt chất dễ bay hơi không mất đi, vừa có tác dụng chữa bệnh tốt.
Ngoài cây tam thất (Panax pseudoginseng Wall) kể trên còn có 2 loại tam thất mọc hoang:
- Vũ diệp tam thất còn gọi là tam thất hoang có tên khoa học Panax bipinna tifidus Seem có rễ củ nhiều đốt.
- Cây tam thất mọc hoang ở vùng Hà Giang, Lao Kai có tên khoa học Panax pseudoginseng Nees.
Hai cây này công dụng như cây tam thất nhưng rễ củ dài nhiều đốt.
Cần phân biệt một số cây có tên là “tam thất” hoặc các cây lấy củ giả làm tam thất để bán ngoài thị trường:
- Cây hổ trượng (cốt khí củ, điền thất nam) có tên khoa học là Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc, họ Polygonaceae.
Rễ củ cây này dài ngắn không đều, mặt ngoài màu nâu vàng, mùi không rõ vị hơi đắng, dùng chữa phong thấp đau nhức xương, viêm gan, mhiễm trùng đường tiểu tiện.
- Cây thổ tam thất có tên khoa học là Gynura segetum (L.) Merr. hoặc Gynura pinnatifida thuộc họ Cúc (Compositae), lá và rễ dùng làm thuốc cầm máu, chữa rắn cắn.
- Tam thất gừng (tam thất nam, khương tam thất) có tên khoa học là Staplianthus thorlii Gagnep. thuộc họ gừng Zingiberaceae. Lá mọc thẳng từ thân rễ, phiến lá nguyên thân dài, hình mác hẹp đầu nhọn màu nâu tím. Củ rễ hình tròn thuôn một đầu hoặc hình trứng nhẵn, mặt ngoài màu vàng nhạt, thịt màu trắng ngà, vị cay nóng. Rễ tam thất gừng dùng chữa nôn mửa, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.
- Cây ngải tím (nghệ đen, nga truật) có tên khoa học Curcuma zedoaria Rose họ Zingiberaceae.
Củ khô rất cứng, vỏ ngoài màu nâu, có mùi thơm đặc biệt củ hình con quay (người ta hay làm giả tam thất bắc để bán). Củ này dùng chữa ứ huyết bế kinh, đau bụng vùng dưới .

Theo Sức khỏe và Đời sống


-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Cây thuốc - Vị thuốc

6 Responses to “Cây Tam Thất”

  1. 20/11/2012 at 10:04 am #

    Củ Tam Thất – Một vị thuốc quý.

    Củ tam thất, trong thực tế có nhiều loại: tam thất sâm, tam thất gừng và tam thất là xẻ.

    Tên khoa học: Panax Pseudo-Ginseng Wall) pamax Repens Maxim) thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceae).

    Tam thất là một loại cây nhỏ, sống lâu năm (ảnh). Lá mọc vòng 3-4 lá một, cuốn lá dài 3-6cm, mỗi cuốn lá có 3-7 lá chét hình mác dài, mép lá có hình răng cưa nhỏ.

    Bộ phần dùng làm thuốc chủ yếu là rễ hình con quay, cũng có sạng một bó củ dính vào một đoạn thân rễ rất ngắn. Đầu củ có một đoạn thân rễ ngắn mang chồi mầm và cái vết sẹo của thân có từ trước đó. Rễ củ mập chắc, chiếc nhiều hoạt chất, vị rất đắng và có mùi thơm riêng của tam thất.

    Đặc điểm tam thất thường mọc hoang ở các núi cao, cao trên 1.000m như Sapa (Lào Cai), Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn. Kỹ thuật trồng tam thất cũng rất công phu – tam thất còn được trồng làm cây cảnh rất đẹp lạ mắt.

    Trong tam thất có hai chất: Sapomin: Arasapomin A và Arasapomin B. Arasapomin A là chất bột tan trong rượu metylic, etylic và amylic.

    Theo Đông y, tam thất vị đắng, tính ôn, vào 2 can và vị. Có tác dụng cầm máu, lưu thông máu, chống ứ trệ tiêu hủy dùng để điều trị thổ huyết (ho ra máu), chảy máu cam, lỵ ra máu, đẻ xong máu có mùi hôi, cơ bắp va chạm mạnh có nốt bầm xuất huyết, bị đánh bầm tím cục bộ. Ngay trong ù tai chưa rõ nguyên nhân dùng bột tam thất uống với mật ong cũng rất tốt. Dùng bột tam thất rắc lên nơi chảy máu để cầm máu, giảm đau, chống viêm, bồi dưỡng cơ thể khi suy nhược, sụt cân trong lao tâm, lao lực chưa rõ nguyên nhân, mới ốm khỏi, tăng sức đề kháng sau phẩu thuật nhất là với bỏng, chấn thương, chữa hành kinh chậm, đau bụng khi có kinh, đầy bụng ăn không tiêu. Đặc biệt với phụ nữ sau khi sinh, tam thất hầm với gà tơ. Cách làm: củ tam thất rửa sạch cho vào nồi cơm vừa ráo nước hấp kín khi cơm chín lấy củ tam thất ra, dùng dao thái mỏng từng lát. Gà con nhổ sạch lông, mổ dọc từ mỏm, ức, bỏ ruột, bàng quang… Rửa sạch gà cho tam thất vào, có ít hạt đậu xanh, đậu đen, hạt sen, tí bột ngọt, ít bột tiêu… tất cả nhét trong mề gà, khâu mề gà lại và khâu toàn bộ con gà, chưng cách thủy… Mỗi tuần nên ăn 2 con gà hầm với củ tam thất. Sức khỏe lên thấy rõ, da niêm mạc hồng đẹp, đặc biệt số lượng hồng cầu cũng tăng lên khá nhiều.

    Liều lượng dùng: bột tam thất thật mịn dùng từ 4g-8g, trung bình 6g, pha với nước sôi để nguội thêm 1-2 thìa mật ong rồi uống hàng ngày. Hoặc ngâm rượu tam thất dùng cho những bệnh nhân đau nhức xương khớp, đau lưng (chống chỉ định với bệnh nhân cao huyết áp). Người ta còn dùng bột tâm thất ngâm rượu với bột đinh lăng lại càng tốt, quý.

    Với tam thất sâm, củ rễ có chứa 23 Saponin, Damaran thuộc các nhân Diol và Triol. Các thành phần khác là hợp chất Polyaxetylen và Panaxytriol, nhiều axít amin Dencychin loại tam thất sâm cùng với những tác dụng cơ bản như tam thất lá sẻ và tam thất gừng, nhưng nó còn có tác dụng an thần, phòng ngừa xa những u xơ tiềm ẩn trong cơ thể… Điều trị các bệnh về gan và bệnh lý tim mạch.

    Ÿ Trang Xuân Chi.

  2. 20/11/2012 at 10:05 am #

    Tam thất – Những điều cần biết

    Cô ruột của tôi là Đào Ngân Bình ở Quận Hoàn Kiếm – Hà nội bị ung thư đại tràng từ năm 1996, nhưng may là phát hiện ở giai đoạn 1, sau khi mổ và cắt khối u, cô bi quan, chán nản và suy sụp, nhưng được bác sĩ trực tiếp điều trị tư vấn ngoài việc dùng thuốc Tây theo chỉ định, cần kết hợp dùng tam thất với mật ong. Từ đó đến nay, không thấy có sự phát triển hay di căn của khối u, sức khỏe cô tôi như một người bình thường, vẫn tham gia các hoạt động xã hội và chăm lo cho con cháu. Tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm này đến những gia đình có bệnh nhân bị mắc căn bệnh ung thư và muốn mọi người hãy thử xem? Tôi cũng muốn nói rằng: Tam thất không có tác dụng chữa ung thư, nhưng có thể góp phần làm chậm quá trình phát triển và di căn của khối u.

    Tại Hà nội, giá bán của một lạng tam thất loại tốt là 320 đến 350 ngàn một lạng, tốt nhất bạn nên chọn củ rồi nhờ nhà hàng xay luôn tại chỗ, mua ở các hiệu thuốc Bắc có thương hiệu hoặc ở phố Thuốc Bắc, phố Hải Thượng Lãn Ông – Hà nội sẽ có nhiều sự lựa chọn.

    Với người bình thường không bị ung thư, uống tam thất cũng rất tốt, đặc biệt là với những người ở độ tuổi trung niên.

    Ung thư cũng không có nghĩa là chết, hãy lạc quan, bạn nhé!

    Mời bạn đọc thêm sự chia sẻ của một bệnh nhân bị ung thư và dùng tam thất cũng có hiệu quả tốt: Hãy click vào đây: Dùng tam thất, mất ung thư.

    Bạn cũng có thể kiểm tra sức khỏe và phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm nhất với phương tiện hiện đại bậc nhất tại đây: Khoa ung bướu bệnh viện Bạch mai-Hà nội.

    Hiện nay nhiều người chưa hiểu hết công dụng của tam thất nên đã sử dụng tam thất một cách tùy tiện. Để sử dụng tam thất một cách khoa học, hợp lý với hiệu quả chữa bệnh cao, cần lưu ý một số điểm.

    Sơ chế trước khi dùng: Để bảo đảm hiệu quả chữa bệnh và an toàn, trước hết, rửa thật nhanh củ tam thất bằng nước đun sôi để nguội vài lần, không cho nước kịp ngấm vào ruột, phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ 50-60oC (tuyệt đối không rang tam thất trực tiếp trên chảo hoặc tẩm dược liệu với mỡ gà, rồi phơi sấy khô như một số người đã làm). Khi dùng, mới thái lát hoặc tán bột. Dùng đến đâu làm đến đó vì để nguyên củ thì thời hạn sử dụng có thể kéo dài đến 2 năm; nếu thái lát hoặc tán bột, chỉ bảo quản được trong 6-12 tháng, có thể lâu hơn nếu ngâm bột với mật ong hoặc rượu.

    Công dụng và cách dùng: Tam thất có hai tác dụng chính là cầm máu và bổ dưỡng do chứa saponin triterpen là ginsenozid, một hoạt chất quý của nhân sâm. Gần đây, tam thất còn được dùng trong một số trường hợp ung thư (phổi, tuyến tiền liệt, vòm họng, vú) với kết quả tốt.

    Dùng sống dưới dạng bột hoặc mài với nước uống hoặc dạng lát cắt thì ngậm nhai rồi nuốt để chữa thổ huyết, băng huyết, rong kinh, chảy máu cam, máu hôi sau khi đẻ, kiết lỵ ra máu, khối u (ung thư). Bột tam thất rắc ngoài làm cầm máu nhanh các vết thương.

    Dùng chín trong những trường hợp thiếu máu, suy nhược, phụ nữ sau khi đẻ, người mới ốm dậy. Củ tam thất hấp cho mềm, thái mỏng hoặc sao khô, tán bột rồi hầm với thịt gà, thịt chim, ăn hằng ngày trong vài tuần. Có thể ngâm rượu uống. Đơn giản thì hãm tam thất với nước sôi như pha trà, uống làm nhiều lần vừa dễ làm, tiện lợi, vừa giữ được hương vị, hoạt chất. Nước hãm tam thất pha với sữa dùng cho trẻ em rất tốt.

    Có thể phối hợp với nhân sâm trong trường hợp uống riêng tam thất thấy có cảm giác “nóng”, nhất là đối với những người mà khí, huyết đều suy kiệt. Tuy nhiên, nên uống hỗn hợp sâm – tam thất vào ban ngày và uống riêng tam thất vào buổi tối vì nhân sâm sẽ làm cho tỉnh táo, khó ngủ.

    Tam thất còn phối hợp với kỷ tử, cúc hoa chữa các chứng bệnh về mắt; với hoa hòe hoặc rutin trong những trường hợp chảy máu; với linh chi lại tăng cường miễn dịch, chống stress, cải thiện trí nhớ.

    Chú ý: Phụ nữ có thai không được dùng tam thất.
    Cây và củ tam thất.

    Liều lượng: Dùng cầm máu, giảm đau nhanh, mỗi ngày uống 10-20g chia làm 4-5 lần. Để bổ dưỡng, mỗi ngày, người lớn: 5-6g chia hai lần; trẻ em tùy tuổi bằng 1/2 – 1/3 liều người lớn. Uống sau khi ăn 5 – 10 phút. Đối với các trường hợp ung thư, mỗi ngày có thể dùng liều 10g, liên tục trong 12 tháng hoặc lâu hơn.

    Các loài dùng thay thế: Ngoài cây tam thất trồng, hai loài tam thất mọc hoang đã được phát hiện, làm cho vị thuốc trở nên phong phú và đa dạng, giúp cho việc sử dụng tam thất được thuận lợi hơn. Đó là cây tam thất lá xẻ (Panax bipinna tifidus Seem.) và cây tam thất rừng (Panax stipuleanatus H.T.Tsai et K.M.Feng). Cả hai loài đều đã được nghiên cứu sâu về hóa học và dược lý với kết quả tác dụng như tam thất trồng và có thể dùng để thay thế. Tam thất lá xẻ còn được ngâm rượu, rồi chiết dưới dạng tinh sâm dùng rất tốt, đặc biệt có tác dụng kích thích sinh dục.

    Phân biệt thật giả: Trên thực tế, tam thất đã bị giả mạo bởi tam thất gừng (Stahlianthus thorellii Gagnep.), thổ tam thất (Gynura pinnatifida DC.) do trùng tên gọi hoặc hồi đầu thảo (Tacca plantaginea (Hanee) Drenth) do cùng tính dược. Những dược liệu này cũng dưới dạng củ đều được bôi đen bằng mực tàu hoặc bút chì đen, rồi xoa bột hoạt thạch (talc) cho bóng giống màu của tam thất thật.

    Dựa vào những sai khác sau đây về mặt hình thái thực vật, ta có thể phân biệt dễ dàng và tránh nhầm lẫn để có dược liệu tam thất đúng:

    Củ tam thất hình thoi hoặc hình con quay (đa số), dài 2-4cm, đường kính 1-2cm. Đầu củ sần sùi do những vết tích của thân cây rụng hằng năm tạo thành. Mặt ngoài màu đen, có nhiều nếp nhăn dọc. Thịt màu xám đen. Vị ngọt, hơi đắng, mùi thơm nhẹ, tính ấm.

    Củ tam thất gừng hình tròn thuôn một đầu hoặc hình trứng (giống quả trứng chim), dài 1,5 đến 2 cm.

    Mặt ngoài màu trắng vàng, có nhiều vòng song song ngang củ. Thịt màu trắng ngà. Vị cay, nóng, mùi thơm như gừng.

    Củ thổ tam thất (gọi bạch truật nam) hình tròn hoặc gần tròn, dài 4-5cm, đường kính 3,5-4cm, sần sùi không đều. Mặt ngoài màu nâu vàng. Thịt màu vàng ngà. Vị nhạt, chát, hơi ngứa, không mùi.

    Củ hồi đầu thảo hình tròn méo mó không đều, dài 1,5-2cm. Đầu củ sần sùi do những vết tích của lá cây rụng. Mặt ngoài màu trắng bẩn. Thịt màu trắng đục. Vị đắng, hàn, không mùi.
    Lưu ý trong một số trường hợp, củ tam thất rỗng ruột còn bị kẻ xấu nhồi chì cho nặng thêm để trục lợi gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng.

    TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

  3. 20/11/2012 at 10:06 am #

    Cách chọn và sử dụng tam thất

    Củ tam thất hình thoi hoặc hình con quay (càng to càng tốt), không phân nhánh, đầu sần sùi thành những mấu, có nhiều vết nhăn dọc, vỏ ngoài cứng mầu xám hoặc xám đen (dạng sống), sau chuyển mầu đen (dạng sơ chế), ruột đặc mầu vàng xám, chất chắc nặng, vị ngọt nhạt, hơi đắng, mùi thơm nhẹ.

    Loại 1: 100 g có 12 củ, mỗi củ nặng trên dưới 8,33g; loại 2: 16 củ nặng trên 6,25g, loại 3: 20 củ nặng trên 5g; loại 4: hơn 20 củ, dưới 5g).

    Thông thường, nhiều người mua tam thất về để nguyên củ lau sơ qua rồi tán bột uống. Để bảo đảm hiệu quả chữa bệnh và an toàn, trước hết, rửa thật nhanh củ tam thất bằng nước vài lần không cho nước kịp ngấm vào ruột, phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ 50-60 oC (tuyệt đối không rang tam thất trực tiếp trên chảo cho khô hoặc tẩm tam thất với mỡ gà rồi sấy khô như một số người đã làm). Muốn cho củ có mầu đen thì vò củ giữa hai lòng bàn tay nhiều lần. Khi dùng mới thái lát hoặc tán bột. Dùng đến đâu làm đến đó vì để nguyên củ thì thời hạn sử dụng có thể đến hai năm, nếu thái lát hoặc tán bột chỉ bảo quản được trong 6-12 tháng, có thể lâu hơn nếu ngâm bột với mật ong hoặc rượu.

    Tam thất có hai tác dụng chính là cầm máu và bổ dưỡng. Gần đây, nó còn được dùng trong một số trường hợp ung thư (phổi, tiền liệt tuyến, vòm họng, vú) với kết quả tốt.

    Dùng sống dưới dạng bột hoặc mài với nước uống để chữa thổ huyết, băng huyết, rong kinh, chảy máu cam, máu hôi sau khi đẻ, kiết lỵ ra máu. Bột tam thất rắc làm cầm máu vết thương.

    Dùng chín trong trường hợp thiếu máu, suy nhược, phụ nữ sau khi đẻ, người mới ốm dậy. Củ tam thất hấp cho mềm, thái mỏng hoặc sao khô tán bột rồi hầm với thịt gà, thịt chim, ăn hằng ngày liền trong vài tuần.

    Ngoài ra, lá và rễ con cắt ra từ củ tam thất cũng được dùng với tác dụng tương tự. Có thể nấu canh ăn, nấu cao hoặc hãm uống. Cao lá tam thất bôi ngoài cũng cầm máu nhanh các vết đứt, vết thương.

    (Theo Đại Đoàn Kết)

  4. 20/11/2012 at 10:07 am #

    Dùng tam thất có phòng được ung thư?

    Cùng với những nhân sâm, linh chi… tam thất cũng được coi là một vị thuốc quý. Do có sự phổ biến rộng rãi, nên nhiều người dùng đã coi tam thất như một vị “thuốc tiên”, có thể trị được nhiều bệnh, ngay cả đối với căn bệnh ung thư…

    Nhà nhà dùng tam thất

    Củ tam thất có hình thoi, hoặc hình con quay, không phân nhánh, đầu sần sùi thành những mấu. Vỏ ngoài của tam thất có màu xám hoặc xám đen, nhưng sau khi sơ chế, tam thất chuyển sang màu đen. Mùi tam thất nhẹ nhàng, nhưng vị có phần hơi đắng. Bên cạnh đó tam thất có vị hơi ngọt và để lại dư vị đặc trưng của nhân sâm.

    Như ta đã biết, tam thất thuộc vào dòng nhân sâm nên có tác dụng bổ, song lại có phần khác với nhân sâm là tam thất lại theo hướng tác dụng vào phần âm huyết là chính. Trên thực tế, tam thất được sử dụng rất đa dạng. Việc dùng tam thất trị ung thư cũng đang trở thành phong trào của nhiều bệnh nhân.

    Chị Trần Thị Miều, trú tại phố Hoàng Mai, là một người đã “sống chung” với căn bệnh u xơ tử cung nhiều năm nay. Đến giai đoạn điều trị, chị đã nhờ đến tam thất, với hy vọng bệnh tình của mình sẽ thuyên giảm ít nhiều. “Tôi đã sử dụng tam thất trong vòng vài năm trở lại đây. Ngày đó giá tam thất rẻ hơn bây giờ khoảng mấy trăm nghìn một cân. Có lẽ do công dụng của tam thất khá phổ biến, nên nhiều người dùng hơn, dẫn đến việc giá tam thấp cứ tiếp tục “leo thang” đến trên 2 triệu đồng một cân” – chị Miều thổ lộ.

    Tham khảo giá tại phòng khám Đông y gia truyền Hồng Phúc Đường, số 2A Thể Giao, lương y Hoàng Gia Trí giới thiệu: Hiện, tam thất thường được chia làm 2 loại. Loại 1 là loại 1 lạng có khoảng 7 củ tam thất to, có giá khoảng 200 nghìn đồng/lạng. Loại 2 gồm 10 củ tam thất nhỏ hơn, có giá 180 nghìn đồng/lạng. Khi được hỏi sự khác biệt về chất lượng của 2 loại tam thất, ông Trí cho biết: Hai loại tam thất trên đều có công dụng và chất lượng như nhau. Có chăng sự khác biệt là loại 2 gồm những củ tam thất nhỏ hơn.

    Cũng đang có mặt tại cửa hàng, chị Vân Anh ở tập thể Khương Thượng, tuy không mắc bệnh ung thư, nhưng do được nghe nhiều người “khuyên bảo”, chị cũng tìm đến vị đắng của tam thất: Thật ra khi kiểm tra sức khỏe định kỳ, cơ thể tôi hoàn toàn bình thường. Nhưng một vài người bạn khuyên tôi nên dùng tam thất để phòng ngừa ung thư, tôi cũng dùng thử. Dùng lâu nên thành quen, nếu bây giờ không sử dụng, tôi cảm thấy thiếu tự tin về sức khỏe của mình.

    Tam thất hỗ trợ điều trị ung thư

    Sau một thời gian điều trị với tam thất, bệnh tình của chị Miều không nặng hơn mà cũng chẳng thuyên giảm. “Tôi vẫn đi kiểm tra sức khỏe đều đặn, đặc biệt là khối u. Sau một thời gian dài dùng tam thất, khối u của tôi không phát triển, nhưng cũng không tiêu dần như lời mấy dược sĩ đã nói. Nếu ngưng sử dụng tam thất một thời gian, thì khối u có hiện tượng phát triển trở lại” – chị Miều cho biết. Hiện nay căn bệnh u xơ tử cung là “ác mộng” đối với nhiều chị em phụ nữ. Việc chị Miều và chị Vân Anh sử dùng tam thất để phòng ngừa và ngăn chặn những khối u là một việc làm cần thiết.

    Tiến sĩ Y khoa Hoàng Lam Dương, Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương khuyến cáo: Trong điều trị căn bệnh ung thư, ngoài những thuốc đặc trị, có thể sử dụng thêm tam thất. Thông thường, người mắc bệnh ung thư vẫn phải được điều trị bằng xạ trị hay hóa trị… Điều trị kết hợp với tam thất sẽ tăng tính nhạy cảm của mô ung thư, từ đó có thể sử dụng ít hơn thuốc đặc trị, như vậy sẽ ít gây độc hại hơn cho người bệnh. Nhưng nhấn mạnh rằng tam thất cũng không thể thay thế hoàn toàn thuốc đặc trị ung thư.

    Hiện chưa thực sự có một công trình nghiên cứu mang tính thuyết phục trên lâm sàng điều trị ung thư. Nhưng những kết quả khả quan có thể cho chúng ta những định hướng nghiên cứu tích cực. Ví dụ như phối hợp đa phương tiện trị liệu, vừa phẫu thuật, vừa dùng xạ trị, hóa trị, dùng thuốc đông y, hoặc dùng thuốc đông y để giải quyết những tác dụng phụ mà hoá trị và xạ trị gây ra.

    Vì vậy, đông y nói chung và tam thất nói riêng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư là có cơ sở khoa học. Nhưng trong thời điểm này, không nên phóng đại tác dụng của nó, làm người bệnh lúng túng, hoang mang trong điều trị. Để đạt được kết quả tốt nhất trong điều trị bệnh ung thư, bệnh nhân nên tìm đến các bệnh viện để được tư vấn và điều trị kịp thời, bên cạnh đó nên tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ đông y để có thể điều trị kết hợp.

    Theo ANTĐ

  5. 20/11/2012 at 10:09 am #

    Tam thất, vàng không đổi

    Các bạn Lương Đức Quý (Tràng Bảng, Tây Ninh), Nguyễn Pha Khánh (Kim Bảng, Hà Nam) và nhiều bạn đọc viết thư hoặc điện về CTQ yêu cầu cung cấp thông tin về Tam thất. Câu hỏi của các bạn là: Điền thất, Xuyên tam thất và Tam thất có gì giống và khác nhau? Đàn ông có dùng được Tam thất không? Có phải Tam thất phòng chống được u, bướu không?…

    Để đáp ứng yêu cầu, CTQ xin giới thiệu với quý bạn đọc gần xa về Tam thất, vị thuốc Vàng không đổi này.
    Với cái tên Vàng không đổi (Kim bất hoán), Tam thất từ lâu được biết đến như một Thần dược. Nó là món quà quý dùng để biếu, tặng cho phụ nữ lúc ốm đau, lâm bồn. Gà ác (ô kê) hầm Tam thất là món ăn – bài thuốc không thể thiếu được cho sản phụ quyền quý ở các nước Phương Đông.
    Ngày xưa, Tam thất qúy và hiếm như Nhân sâm hay Linh chi vậy. Bây giờ vẫn qúy song không còn hiếm nữa. Trà Tam thất, bột Tam thất … là thức uống bổ dưỡng thường nhật của nhiều gia đình ở thành phố cũng như nông thôn, nhất là với người già và phụ nữ khi sức khoẻ có phần suy giảm.
    Tam thất là rễ của cây Panax notoginseng họ Ngũ gia bì. “Tam thất lá trái 3- lá phải 4 mà thành tên” (Theo Lý Thời Trân). Tam thất có nhiều tên khác như: Nhân sâm tam thất, Phật thủ sơn thất, Huyết sâm, Điền tam thất, Xuyên tam thất, Sâm tam thất, Trấn thất, Điền Tất, Điền thất, Bàn long thất, Hạn tam thất…Tên của nó thường dựa theo vùng trồng (Điền, Trấn, Xuyên…), theo tác dụng (Huyết sâm: sâm bổ huyết), …theo hình dáng (Phật thủ tam thất, Bàn long thất…)
    ở nước ta, Tam thất mọc hoang và được trồng ở vùng núi Hoàng Liên Sơn, vùng đầu nguồn sông Hồng giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Tam thất Việt Nam thường củ nhỏ ruột màu vàng nhạt hoặc củ to rất nhiều mấu mà lại không chắc mấy.
    ở Trung Quốc, Tam thất mọc hoang và được trồng nhiều nhất ở Vân Nam, châu Văn Sơn … nơi có chế phẩm “Vân Nam bạch dược” nổi tiếng mấy năm nay. Ngoài ra, ở Tứ Xuyên, Hà Nam, Quảng Tây cũng có Tam thất mọc hoang hay được trồng ở cấp quy mô.
    Cách chọn Tam thất
    “Vàng không đổi” thì phải là Tam thất loại tốt. Vậy Tam thất thế nào là tốt?
    Cũng như Sâm, Tam thất già là tốt nhưng càng già càng chưa chắc đã là tốt vì với Tam thất, củ nằm dưới đất mà nằm quá lâu thì lại hay xơ. Cho nên người ta thường thu hoạch Tam thất từ 4 đến 6 tuổi. ở thời gian này, Tam thất thường cho chất lượng tốt hơn cả (Đó là kinh nghiệm dân gian, còn chờ các nhà khoa học chứng minh).
    Củ Tam thất thường có hình giống như con ốc đá hay hình trụ, nhưng theo những người có kinh nghiệm thì củ nào giống ốc đá, màu xám xanh hơi đen hoại nâu, bóng sáng là tốt. Bên ngoài củ Tam thất thường có vết bám vàng ngang hay vết lõm và có cả những lằn dọc không liên tục nữa. Đầu củ có nhiều mấu. Đó là dấu vết của thân cây hàng năm chết đi để lại. Cây càng nhiều mấu thì tuổi càng nhiều là vậy.
    Thịt củ Tam thất chắc, khó có thể bẻ bằng tay. Nếu dùng vật nặng đập vỡ thì vỏ và lõi thường tách rời nhau. Mặt cắt cũ có màu xám hơi xanh hoặc vàng đất hoại xám trắng. Củ Tam thất nào có ruột màu xám xanh, mịn chắc không có vết nứt xốp là tốt nhất. Các phiến Tam thất có màu xám xanh hay xám nâu, mịn chắc không nứt là tốt.
    Giá Tam thất trên thị trường thường tính theo số lượng củ. Củ nhỏ giá thấp, củ to đắt hơn, 100g thường từ 15.000đ cho tới 40-50.000đ (tuỳ theo nhiều hay ít củ trong một lạng).
    Bạn không nên chú ý tới các củ to và nhiều mấu sần sùi. Hãy xem kỹ để tránh mua phải củ ghép, củ có chì bên trong…
    Công dụng của Tam thất – Vàng không đổi
    Tam thất là một trong những vị thuốc có tác dụng nhiều mặt, mà tác dụng nào cũng đáng tin cậy cả. Vì vậy người xưa, nhất là trong nhà có phụ nữ thì Tam thất được quý hơn vàng vì có những lúc bệnh cấp, có vàng cũng chưa chắc đổi được Tam thất mà dùng. Vì vậy mới có tên “vàng không đổi”.
    Theo YHCT, Tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào Kinh, Can, Vị, Tâm, Phế, Đại tràng, có tác dụng hoá ứ, cầm máu, tiêu thũng, giảm đau, bổ khí huyết, (dùng chín) dùng chữa tất cả các chứng xuất huyết, ngã đau sưng bầm tím, đau tức ngực, u bướu, huyết ứ, bế kinh, thống kinh, sản hậu huyết hư gây đau bụng, các loại mụn nhọt sưng đau, khí huyết lưỡng hư, tức ngực…
    Chú ý: Phụ nữ có thai cần cẩn thận khi dùng.
    Người huyết nhiệt không dùng.
    Xin giới thiệu một số bài thuốc đơn giản theo kinh nghiệm hay theo y văn cổ thường dùng có Tam thất. Bạn hãy tự chọn bài thuốc nào phù hợp với mình để sử dụng (những bài thuốc này chỉ phù hợp với bệnh vừa và nhẹ).
    * Chữa nôn ra máu: Gà 1 con làm sạch bỏ lòng
    Tam thất bột 5g
    Nước ngó sen: cốc (200ml)
    Rượu lâu năm: nửa chén (15ml)
    Hầm cách thuỷ để ăn, cách ngày ăn 1 lần, đến khi khỏi
    *Chữa ho ra máu, chảy máu cam, đi ngoài, đi tiểu ra máu
    Đá hoa: 12g (nung)
    Tam thất: 10g
    Than tóc rối tồn tính: 4g
    Tán bột chia làm 2 lần uống với nước chín sẽ khỏi.
    * Đi tiểu ra máu:
    Tam thất bột: 4g
    Nước sắc Cỏ bấc đèn và Gừng tươi: vừa đủ (200ml)
    Uống ngày 2 lần tới khi ngừng.
    * Xuất huyết đại tràng: Tam thất bột: 8g
    Rượu trắng nhẹ 20 độ vừa đủ trộn với bột .
    Uống ngày 2 lần với Tứ vật thang (Thục địa chế rượu: 10g, Bạch thược: 10g, Đương quy tẩm rượu sao: 10g, Xuyên thang: 10g)
    Uống vài ba lần sẽ khỏi
    * Loét hành tá tràng và dạ dày:
    Tam thất bột: 12g
    Bạch cập: 9g
    Mai mực: 3g
    Nghiền bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g uống từ 15-21 ngày.
    * Lỵ ra máu:
    Bột Tam thất: 12g
    Nước gạo nếp vừa đủ.
    Uống từ 2-3 ngày.
    * Xích bạch đới:
    Bột Tam thất 5g uống với 15ml rượu nóng.
    * Đau bụng kinh:
    Bột Tam thất: 5g. Uống trước khi hành kinh 3 ngày cho tới khi có kinh, nếu hết đau thì ngừng.
    * Sau khi đẻ máu ra nhiều: Bột Tam thất 6g hoà với nước cháo uống hàng ngày.
    * Bệnh mạch vành: phòng và chữa.
    - Bột Tam thất 3g ngày uống 5 lần liên tục tới khỏi.
    - Bột Nhân sâm và bột Tam thất: mỗi thứ 1.5g, uống ngày 2 lần liên tục tới khỏi
    - Bột Tam thất: 1,5g
    Bột Ngọc trai: 0,3g
    Bột Xuyên bối mẫu: 3g.
    Uống ngày 2 lần, liên tục tới khỏi.
    * Đau tức ngực:
    Bột Tam thất: 8g
    Uống với 15ml rượu nóng. uống hàng ngày, lâu dài
    * Thấp tim:
    Bột Tam thất: 1g, uống ngày 2-3 lần; làm chậm quá trình phát triển của bệnh.
    * Vết thương phần mềm bầm tím:
    Bột Tam thất một ít.
    Dấm vừa đủ
    Trộn đều đắp lên vết thương.
    Nếu vết thương bị loét thì rắc thẳng bột Tam thất lên sẽ lành.
    * Bị ngã hoặc đánh mà vết thương bầm tím lâu không hết:
    Tam thất uống 5g, nhai nát đắp lên.
    * Bị đánh hoặc ngã có vết thương kín trong nội tạng.
    Bột Tam thất: 15g
    Cua sống: 1 con.
    Làm sạch cua, giã nát, trộn đều, uống với rượu nóng. Cứ 2 ngày/lần tới khi hết đau.
    * Nam giới bị viêm tiền liệt tuyến:
    Tam thất sống: 3g. Nhai rồi nuốt hàng ngày vào sáng sớm.
    * Đau mắt đỏ lâu ngày không khỏi:
    Mài Tam thất với nước rồi bôi xung quanh mí mắt (bôi ngoài).
    * Sưng đau không rõ nguyên nhân: Hoà bột Tam thất với dấm, đắp ngày 2 lần.
    * Mụn nhọt các loại:
    Nhũ hương, Tam thất, Mộc dược, Huyết kiệt, Hài nhi trà, mỗi thứ 8g
    Bằng phiến: 4g.
    Xạ hương: 0,8g.
    Nếu xưng đỏ da: gia bột Hoàng liên 4g
    Nếu loét : gia bột Khinh phấn: 4g
    Mụn nước chảy: gia bột Long cốt nung 4 g.
    Mụn lâu không liền miệng: gia bột Ngọc trai: 4g, bột Mai cua cả gạch: 8g
    Nếu mụn đang sưng: trộn với Dấm mà đắp
    Nếu mụn đã vỡ mủ: rắc bột khô
    Viêm tĩnh mạch nông: Uống bột Tam thất 2 lần/ngày, mỗi lần 2g
    * Bổ dưỡng:
    Chóng mặt do thiếu máu: Tam thất 3g, Chim bồ câu 1 con. Hấp cách thuỷ ăn hàng ngày.
    Khí huyết lưỡng hư: Tam thất: 3g, Nhân sâm: 3g. Nghiền bột ăn với bánh vào buổi sáng hàng ngày.
    Thật khó có vị thuốc nào chữa được cả bệnh nội lẫn bệnh ngoại thương, vừa cầm máu lại vừa bổ máu như Tam thất. Tam thất dễ dùng, uống lâu dài không có tác dụng phụ.
    Nhưng chú ý: người huyết nhiệt tuyệt đối không nên uống.
    Đọc xong bài này, bạn sẽ hiểu tại sao Tam thất là thứ thuốc “Vàng không đổi”

    Ds. Bùi Thị Trường

  6. 20/11/2012 at 10:11 am #

    Tác dụng chữa bệnh của tam thất

    Theo Đông y, tam thất vị ngọt hơi đắng, tính ôn, có tác dụng hóa ứ, cầm máu, tiêu sưng, giảm đau. Trong thời gian dùng tam thất để cầm máu, bệnh nhân không được sử dụng gừng, tỏi và các chế phẩm có gừng, tỏi.

    Theo y học hiện đại, tam thất có các tác dụng sau:

    - Bảo vệ tim chống lại những tác nhân gây loạn nhịp. Chất noto ginsenosid trong tam thất có tác dụng giãn mạch, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu ôxy (tránh choáng khi mất nhiều máu). Nó cũng ức chế khả năng thẩm thấu của mao mạch; hạn chế các tổn thương ở vỏ não do thiếu máu gây ra.

    - Cầm máu, tiêu máu, tiêu sưng: Chữa các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng), tiêu máu ứ (do phẫu thuật, va dập gây bầm tím phần mềm).

    - Kích thích miễn dịch.

    - Tác dụng với thần kinh: Dịch chiết rễ tam thất có tác dụng gây hưng phấn thần kinh. Nhưng dịch chất chiết lá tam thất lại có tác dụng ngược lại: kéo dài tác dụng của thuốc an thần.

    - Giảm đau: Dịch chiết của rễ, thân lá, tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.

    Sau đây là một số bài thuốc có tam thất:

    - Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh): Ngày uống 5 g bột tam thất, uống 1 lần, chiêu với cháo loãng hoặc nước ấm.

    - Phòng và chữa đau thắt ngực: Ngày uống 3-6 g bột tam thất (1 lần), chiêu với nước ấm.

    - Chữa thấp tim: Ngày uống 3 g bột tam thất, chia 3 lần (cách nhau 6-8 giờ), chiêu với nước ấm. Dùng trong 30 ngày.

    - Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả ứ máu trong mắt): Ngày uống 3 lần bột tam thất, mỗi lần từ 2-3 g, cách nhau 6-8 giờ, chiêu với nước ấm.

    - Chữa đau thắt lưng: Bột tam thất và bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều, ngày uống 4 g, chia 2 lần (cách nhau 12 giờ), chiêu với nước ấm. Thuốc cũng có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau sinh, người mới ốm dậy.

    - Chữa bạch cầu cấp và mạn tính: Đương quy 15-30 g, xuyên khung 15-30 g, xích thược 15-20 g, hồng hoa 8-10 g, tam thất 6 g, sắc uống.

Viết phản hồi