Cây huyết dụ

Có 2,626 lượt xem

Thân thăng phần nhánh ở gốc, lá như mũi dao màu đỏ càng có nắng lá càng đỏ nhiều.

Truyện cổ tích kể rằng cây này mọc lên từ con dao mổ lợn của một người làm nghề đô tể, được nhà sư Nguyễn Chích, một danh tướng của Lê Thái Tổ chán cảnh quan trường bỏ về đi tu giáo hóa đã bỏ nghề, cắm con dao mổ lợn xuống đất ở cửa chùa và cây huyết dụ từ con dao đó mọc lên, nên cây này ngày xưa thường trồng ở cửa đền chùc Thân cành chia nhiều đốm mau do các thẹo lá tạo nên. Lá mọc thành chùm ở ngọn cây. Hoa xấu như hoa cây ngô. Lá cùng làm thuốc cầm máu, chữa kiết lỵ và lậu. Bên cạnh cây huyết dụ còn có cây bạch đụ, lá xanh, to bản và bóng, trồng ở đất, bồn hay chậu và cây bồng bồng (Dracacna anguslifolia Roxb) đều thuộc họ huyết dụ (Dracaceae). Cây bồng bồng thanh mảnh hơn, chịu cớm, hoa trắng mọc thành chùm dài thõng xuống vào mùa xuân, hoa ăn được, lá cây dùng chữa bệnh kiết lỵ, khí hư, lậu. Nhản giống bằng cắm cành dễ sống. Thân thăng phần nhánh ở gốc, lá như mũi dao màu đỏ càng có nắng lá càng đỏ nhiều. Truyện cổ tích kể rằng cây này mọc lên từ con dao mổ lợn của một người làm nghề đô tể, được nhà sư Nguyễn Chích, một danh tướng của Lê Thái Tổ chán cảnh quan trường bỏ về đi tu giáo hóa đã bỏ nghề, cắm con dao mổ lợn xuống đất ở cửa chùa và cây huyết dụ từ con dao đó mọc lên, nên cây này ngày xưa thường trồng ở cửa đền chùc Thân cành chia nhiều đốm mau do các thẹo lá tạo nên. Lá mọc thành chùm ở ngọn cây. Hoa xấu như hoa cây ngô. Lá cùng làm thuốc cầm máu, chữa kiết lỵ và lậu. Bên cạnh cây huyết dụ còn có cây bạch đụ, lá xanh, to bản và bóng, trồng ở đất, bồn hay chậu và cây bồng bồng (Dracacna anguslifolia Roxb) đều thuộc họ huyết dụ (Dracaceae). Cây bồng bồng thanh mảnh hơn, chịu cớm, hoa trắng mọc thành chùm dài thõng xuống vào mùa xuân, hoa ăn được, lá cây dùng chữa bệnh kiết lỵ, khí hư, lậu. Nhản giống bằng cắm cành dễ sống.

Một số bài thuốc Nam được dùng trong dân gian:

Chữa các loại chảy máu, xuất huyết tử cung và tiêu tiểu ra máu: Lá tươi huyết dụ 40-50 g, sắc uống (hoặc lá khô, hoa khô với lượng bằng 1/2 lá tươi). Chú ý không dùng sau khi nạo thai hoặc sau đẻ bị sót rau.

Chữa ho ra máu, chảy máu cam và chảy máu dưới da: Lá huyết dụ tươi 30 g, lá trắc bá (sao cháy) và cỏ nhọ nồi mỗi vị 20g, sắc uống.

Chữa bạch đới, đi lỵ, rong huyết, viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu: Huyết dụ tươi 40 g, lá thuốc bỏng (sống đời), lá băn (xích đồng nam) đều 20 g, sắc uống.

Chữa bị thương ứ máu hay phong thấp đau nhức: Dùng huyết dụ cả lá, hoa, rễ 30 g, huyết giác 15 g, sắc uống.

Video thuốc từ cây huyết dụ