3:54 pm - Monday April 21, 2014

Bệnh Viêm họng

Viêm họng là bệnh mà khi đó họng và hầu bị viêm [1]. Trong phần lớn các trường hợp viêm họng làm cổ họng người bệnh sưng, đỏ, rất đau và bệnh tình có thể kéo dài. Viêm họng là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đau họng.

Giống như các loại bệnh viêm khác, viêm họng có thể là cấp tính hay mạn tính. Viêm họng có thể dẫn đến viêm amiđan khiến việc thở và nuốt gặp khó khăn. Viêm họng có thể đi kèm với ho và sốt, ví dụ như trong trường hợp nguyên nhân của nó là nhiễm trùng phần trên của đường hô hấp.

Phần lớn các trường hợp viêm họng do virus gây ra (40–80%), phần còn lại là do vi khuẩn, nấm hay các chất kích thích như chất gây ô nhiễm hay hóa chất. [2] Đối với trường hợp mầm bệnh là virus, cách điều trị thường chủ yếu là điều trị làm giảm các triệu chứng viêm, sốt, ho… còn trong trờng hợp mầm bệnh là nấm hay vi khuẩn thì có thể điều trị bằng các thuốc kháng sinh hay thuốc trị nấm.

1. Giải phẫu và sinh lý họng

1.1. Giải phẫu họng

Cấu tạo của họng

Họng là một ống cơ và màng ở trước cột sống cổ. Đi từ mỏm nền tới đốt sống cổ thứ IV, là ngã tư của đường ăn và đường thở, nối liền mũi ở phía trên, miệng ở phía trước với thanh quản và thực quản ở phía dưới. Giống như một cái phễu phần trên loe rộng, phần dưới thu hẹp. Thành họng được cấu trúc bởi lớp cân, cơ, niêm mạc.

Họng chia làm 3 phần:

- Họng mũi (tỵ hầu) phần họng trên.

- Họng miệng (khẩu hầu) phần họng giữa.

- Họng thanh quản (thanh hầu) phần họng dưới.

Vòng Waldeyer

Họng có các tổ chức lympho tạo thành một vòng bao quanh gọi là vòng Waldeyer.

- Bao gồm: Amiđan khẩu cái, Amiđan lưỡi, Amiđan vòm (luschka), Amiđan vòi (gerlach).

- Mô học của Amiđan: Giống như cấu trúc của hạch bạch huyết.

- Chức năng là sinh ra các kháng thể để bảo vệ cơ thể.

Khoang quanh họng

Quanh họng có các khoang chứa các tổ chức cân, cơ, mạch máu, thần kinh, hạch bạch huyết và các khoang này có liên quan mật thiết với họng.

- Khoang bên họng (Sébileau).

- Khoang sau họng (Henké).

Mạch máu: Mạch nuôi dưỡng thuộc ngành động mạch cảnh ngoài: động mạch hầu lên, động mạch giáp trạng trên, động mạch khẩu cái lên.

Thần kinh

-  Thần kinh cảm giác thuộc dây IX, X. Dây IX chi phối nền lưỡi và 1/3 dưới Amiđan. Dây X chi phối thành sau họng và màn hầu.

- Thần kinh vận động chủ yếu do nhánh trong của dây IX và dây XI.

Mạch bạch huyết: đổ vào các hạch sau họng: hạch Gillete, hạch dưới cơ nhị thân và hạch dãy cảnh.

1.2. Sinh lý của họng

Họng là ngã tư đường ăn và đường thở. Nên giữ các chức năng sau:

- Chức năng nuốt.

- Chức năng thở.

- Chức năng phát âm.

- Chức năng nghe.

- Chức năng vị giác (nếm).

- Chức năng bảo vệ cơ thể.

Bệnh viêm họng theo Đông Y

I. Nguyên nhân

Nguyên nhân có nhiều, ở đây ta nghiên cứu 2 loại thường gặp là do nhiệt độc của phế vị xông lên và nhiễm khí độc của dịch lệ.
1. Do nhiệt độc

a. Triệu chứng: Có ho sốt nhẹ, nuốt thấy vướng mắc ở cổ họng, hoặc cảm thấy hơi đau. b. Điều trị Thuốc: ô mai: 2g, Sài đất: 4g, Húng chanh: 2g Sắc ngậm nuốt dần, hoặc giã sống ngậm nuốt nuốt dần. Châm cứu: hợp cốc (châm tả, Thiếu dương (thích huyết), Thiên trụ (bình bổ bình tả lưu kim 15′)

2. Nhiễm khí độc:

a. Triệu chứng: Bệnh phát nhanh, sốt cao và đột ngột tiếng không trong, ho tiếng nặng, trong họng có tiếng như kéo cưa, chân tay hơi lạnh, họng đỏ không có mảng trắng; Rêu lưỡi dầy vàng, chất lưỡi đỏ. b. Điều trị:
Thuốc: Sơn đậu căn: 9g; Cam thảo dây: 6g; Củ rẻ quạt: 8g; Sài đất: 20g. Nước 400ml sắc lấy 150 ml. Mỗi lần cho uống 1-2 thìa cà phê, cách nửa giờ cho uống 1 lần. – Châm cứu: Dùng các huỵêt trên, nhưng tăng cường độ và thời gian.

II. Phòng bệnh viêm họng:

- Về mùa lạnh và những khi có dịch khí lan tràn, cần mặc ấm và xoa dầu vào mũi trước khi đi ra ngoài để tránh khí lạnh và dịch khí theo đường mũi và miệng vào cơ thể gây bệnh.

Chú ý: Chứng viêm họng có màng trắng và có hạch ở cổ tức là bệnh bạch cầu, cần chuyển bệnh nhân tới cơ sở có khả nằng điều trị.

III. Vị thuốc dân gian chữa bệnh viêm họng

1. Cây húng chanh chữa viêm họng
Húng chanh là cây thân thảo, sống lâu năm. Lá và ngọn non ngoài việc dùng làm rau gia vị, còn được sử dụng như một vị thuốc giúp trị cảm cúm, sốt cao, chảy máu cam, viêm họng, khản tiếng… – Chữa cảm cúm, ho, viêm họng, khản tiếng: Lá húng chanh non 5-10g giã nát vắt lấy nước cốt nóng. Hoặc đem giã nhỏ một nắm lá (15-20g), thêm nước, vắt lấy nước uống làm 2 lần trong ngày. Đối với trẻ em, thêm ít đường, đem hấp cơm cho uống làm 2-3 lần 2. Rẻ quạt (xạ can) chữa viêm họng
Rẻ quạt có vị đắng, tính mát, thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, tiêu viêm, mát cổ họng, được dùng để chữa các bệnh về họng như ho, viêm họng, đau họng, khản tiếng. Rẻ quạt, còn có tên xạ can (tên khoa học là Belamcanda chinensis (DC) Red.), là một cây thảo sống dai thuộc họ Lay-ơn (Iridaceae). + Trị ho: trong họng có nước khò khè như gà kêu: Rẻ quạt 13 củ, Ma hoàng 120g, Sinh khương 120g, Tế tân, Tử uyển, Khoản đông hoa đều 90g, Ngũ vị tử ½ thăng, Đại táo 7 trái, Bán hạ(chế). Sắc Ma hoàng với 1 đấu 2 thăng nước cho sôi, vớt bỏ bọt, cho các vị kia vào nấu còn 3 thăng, chia làm 3 lần, uống ấm.[3]

Viêm họng hạt

Viêm họng hạt chỉ là phản ứng của niêm mạc họng bị viêm nhiễm trường diễn. Vùng họng chứa nhiều mô lympho với nhiệm vụ diệt khuẩn. Vi khuẩn xâm nhập vùng họng sẽ bị các bạch cầu ở đây bắt giữ đưa vào mô lympho và tiêu diệt ở đó. Nếu họng bị viêm mạn tính, các mô lympho phải làm việc liên tục trong một thời gian dài nên ngày càng to ra và gây viêm họng hạt. Thành sau họng sẽ có nhiều hạt lớn nhỏ như đầu đinh ghim hoặc hạt ngô, có nhiều hạt nối liền với nhau bằng những dây máu đỏ.

Lúc bình thường, các mô lympho ở họng là nơi diệt khuẩn âm thầm, chúng ta không có cảm giác gì. Nhưng khi trở thành “hạt” thì nó lại kích thích họng gây khó chịu. Người bệnh lúc nào cũng thấy vương vướng trong họng, ngứa họng, phải đằng hắng hay ho nhẹ một tiếng mới hết; và chỉ một lúc sau (vài giờ, thậm chí chỉ mấy phút) lại bị ngứa họng, lại phải đằng hắng hay ho nhẹ một cái.

Bệnh diễn biến một thời gian dài (vài tháng, có khi vài năm). Tình trạng ngứa họng ngày càng nặng hơn, việc đằng hắng không còn tác dụng nữa. Bệnh nhân ho khan, thường không có đờm, có lúc phải ho cả tràng, thậm chí ho dây dài không kịp thở.

Để điều trị viêm họng hạt, trước hết phải loại bỏ các ổ vi khuẩn xung quanh; phải tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến viêm họng hạt để chữa một cách triệt để. Ví dụ: điều trị viêm mũi, viêm xoang, viêm khí phế quản, viêm amidan… để loại bỏ ổ vi khuẩn từ một trong những nơi này.

Ngoài ra, người bệnh cần giữ sạch răng miệng, đánh răng và súc miệng kỹ sau ăn. Không hút thuốc lá, kể cả hút thụ động (hít thở phải nhiều khói thuốc do người khác hút), kiêng rượu mạnh, tránh ăn kem, uống nước đá lạnh… Luôn giữ ấm vùng cổ, tập thở sâu (phương pháp thở bụng) dài hơi, nhẹ nhàng và đều đặn.

Viêm họng mạn tính

Viêm họng mạn tính biểu hiện dưới ba dạng chính: Viêm họng xuất tiết, viêm họng mạn tính quá phát hay viêm họng hạt và viêm họng mạn tính thể teo. Gọi là viêm họng mạn tính để phân biệt với các dạng viêm họng mạn tính khu trú trên vài phần của họng như viêm amiđan, VA. Trẻ em, thanh niên, người trung niên thường bị dạng xuất tiết hay dạng hạt, còn người cao tuổi thường bị dạng teo.
Những triệu chứng mà bệnh nhân than phiền đều tương tự nhau trong các thể bệnh. Bệnh nhân thường có cảm giác vướng, nghẹn như có khối lạ trong họng, phải khạc nhổ liên tục; Ho từng cơn, đàm nhớt đặc quánh; Họng bị khô, đau họng hay nuốt đau. Các triệu chứng này rất rõ rệt vào buổi sáng, lúc mới thức dậy. Bệnh diễn biến từng đợt, không kèm theo những rối loạn toàn thân hay sốt nếu không bị bội nhiễm bởi vi trùng hay siêu vi. Trong bệnh viêm họng hạt, cảm giác vướng họng là nổi bật, có khi bệnh nhân đi khám bệnh vì tưởng rằng mình bị hóc xương. Cảm giác này gây buồn nôn, làm bệnh nhân dễ dàng nôn mửa với những kích thích nhẹ như chải răng vào buổi sáng, thậm chí có khi chỉ yêu cầu há miệng to cũng khiến bệnh nhân bị ói. Với thể teo, cảm giác khô trong họng làm bệnh nhân khó chịu nhất, phải khạc nhổ liên tục với đàm nhớt đặc quánh, thậm chí có cả những vảy mủ khô. Ðộng tác khạc nhổ làm tổn thương niêm mạc họng – vốn đã mong manh – gây chảy máu. Chính những vệt máu trong đàm này đã làm nhiều bệnh nhân sợ bị lao phổi hay ung thư.
Dù bệnh không nguy hiểm nhưng việc khịt mũi, khạc nhổ, ho khan liên tục sẽ làm bệnh nhân bựïc mình, cáu gắt, lo lắng, giảm năng suất làm việc, nhất là khi bị mất ngủ vì cảm giác ngộp thở về đêm.
Khi khám họng, trong thể viêm họng mạn tính xuất tiết, niêm mạc thành sau họng đỏ, nhiều tiết nhầy, lổn nhổn những hạt nhỏ, đó là những nang lympho ở thành họng bắt đầu to ra. Trong thểâ viêm họng hạt, niêm mạc thành sau họng dày lên và sần sùi, trên đó có những hạt to nổi lên riêng rẽ hay từng khúm. Các hạt này có màu từ đỏ tươi đến đỏ xám. Ðặc biệt, xung quanh hạt có những tĩnh mạch tân sinh giãn rộng. Các hạt này thường được bao phủ bởi một lớp tiết nhầy đặc quánh, trong suốt hay đục lờ. Trong những đợt viêm cấp, có thể có những đốm mủ màu trắng hay vàng bẩn bám trên các hạt. Nặng hơn, các nang lympho quá phát thành những dải sùi, đỏ, chạy dọc theo hai trụ sau của amiđan, còn gọi là các trụ giả. Các trụ giả này là nguyên nhân chính gây ngứa và vướng trong họng, kích thích bệnh nhân khạc nhổ và ho khan.
Còn ở thể teo, niêm mạc họng và các nang lympho bị xơ hóa, hạt và nẹp biến mất. Niêm mạc họng thoái hóa mỏng, màu trắng bệâch. Tiết dịch ít và quánh. Trong thể nặng, niêm mạc họng như bị bao phủ bởi một lớp vảy khô.

Nguyên nhân

Bệnh viêm họng mạn tính do rất nhiều nguyên nhân gây ra:
Cơ địa: Bệnh thường xảy ra ở những người có niêm mạc họng yếu ớt về chức năng.
Môi trường: Là những nguyên nhân ngoại lai rất quan trọng, như:
- Bụi, khói, hóa chất, hơi nóng (ô nhiễm không khí ở các thành phố công nghiệp, trong các nhà máy, lò sát sinh, bếp ăn…).
- Những khác biệt liên tục và lớn về nhiệt độ, ẩm độ trong không khí (gây ra bởi máy điều hòa nhiệt độ…).
Thói quen: Hút thuốc lá, uống rượu quá độ, thường làm việc trong những môi trường kín, nhiều khói thuốc…
Những bệnh gây nghẹt mũi như dị ứng mũi xoang, viêm xoang, lạm dụng thuốc nhỏ mũi, những bệnh tích dạng khối u chiếm chỗ trong vòm mũi họng, trong mũi như sùi vòm họng, sự tồn tại của túi Thornwald, đuôi cuốn mũi dưới quá phát, polyp mũi buộc bệnh nhân phải thở bằng miệng đều dễ dàng gây viêm họng mạn. Viêm họng mạn cũng là hậu quả của bệnh viêm xoang mủ mạn tính, do mủ từ trong xoang liên tục chảy xuống họng từ cửa mũi sau.
Các răng sâu là những ổ nhiễm trùng thường trực cũng là một nguyên nhân quan trọng.
Những nguyên nhân khác bao gồm rối loạn nội tiết (tình trạng mãn kinh, nhược giáp), thiếu vitamin A, những rối loạn toàn thân (suy thận, tim, tiểu đường, suy hô hấp, viêm phế quản mạn tính), cơ thể suy nhược do những bệnh mạn tính khác.
Gần đây, trào ngược dịch vị là một nguyên nhân quan trọng được ghi nhận. Dịch vị do nhiều lý do trào ra khỏi miệng thực quản. Niêm mạc vùng họng, hạ họng và thanh quản tổn thương vì không được cấu tạo để chịu đựng độ acid cao của dịch vị sẽ bị viêm mạn tính. Tình trạng khịt, khạc liên tục, khô họng, đắng họng lúc sáng thức dậy, ho khan kéo dài, khàn tiếng hay dễ dàng bị khàn tiếng, đau họng, nuốt vướng, cảm giác như có khối gì trong họng… đều có thể do bệnh lý trào ngược dịch vị ra ngoài thực quản gây nên. Những kiểu chữa trị “ngọn” như dùng kháng sinh, đốt hạt, cắt amiđan đều không hiệu quả, thậm chí còn làm nặng thêm tình trạng bệnh. Cần phải kiểm soát cho được sự trào ngược của dịch vị.
Cuối cùng, sử dụng giọng không đúng cách hay lạm dụng giọng của những người hành nghề phải nói nhiều như người rao hàng, thầy giáo, kịch sĩ, ca sĩ, chính trị gia… cũng đều góp phần vào việc làm phát sinh bệnh này.

Chẩn đoán


Việc chẩn đoán tình trạng viêm họng mạn không khó lắm vì những dấu hiệu tại chỗ thường rất đặc hiệu. Bệnh kéo dài nhiều năm với các đợt viêm cấp. Thường có một sự không tương xứng giữa những dấu hiệu khám được nghèo nàn với các triệu chứng chức năng rầm rộ.
Việc chẩn đoán cho được nguyên nhân gây bệnh khó hơn nhiều và mang tính quyết định cho sự điều trị thành công, vì viêm họng mạn chỉ là hậu quả của một nguyên nhân tiềm ẩn nào đó. Sự thăm khám không đầy đủ, hời hợt sẽ chỉ dừng lại ở chẩn đoán “viêm họng hạt” mà không thấy được những bệnh tích chính.
Khi có những dấu hiệu viêm nhiễm, phải tìm và loại trừ các ổ viêm như viêm amiđan họng, amiđan lưỡi mạn tính. Viêm xoang, nhất là viêm các xoang sau thường có tiết dịch nhầy mủ chảy sau họng, dịch mủ này buộc bệnh nhân khịt khạc liên tục và gây thành viêm họng thứ phát. Tuy nhiên nhớ loại trừ tình trạng trào ngược dịch vị.
Ngoài ra cần chẩn đoán phân biệt với những bệnh khác, với triệu chứng tiềm tàng, vay mượn của viêm họng mạn. Với các hạt nổi gồ trên niêm mạc miệng, họng, cần phải phân biệt với các dạng ung thư biểu mô mà triệu chứng lâm sàng khởi đầu cũng là vướng trong họng, đau nhẹ và hay khạc nhổ. Ở những nước đang phát triển như nước ta, cần thiết phải nghĩ đến lao họng, nhất là ở những người thể trạng suy nhược, lao lực. Với những bác sĩ có kinh nghiệm, việc chẩn đoán phân biệt trên lâm sàng lao họng với viêm họng hạt không quá khó khăn. Tổn thương của lao họng thường rộng, vừa sùi vừa loét, hơi thở rất hôi, người bệnh rất đau đớn khi nuốt. Thường phát hiện được những tổn thương lao trên X-quang phổi thẳng. Giang mai họng với những sang thương loét có bờ cứng đặc hiệu cũng phải được loại trừ. Bệnh tích do giang mai thường không đau. Nếu nghi ngờ, có thể cho bệnh nhân thử các phản ứng huyết thanh đặc hiệu của giang mai. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, chẩn đoán cuối cùng phải dựa trên những kết quả tế bào học chính xác.
Bệnh thấp khớp ở các đốt sống cổ, bệnh xương trâm dài (xương trâm là hai xương nhỏ từ xương thái dương, vùng ống tai chạy xuống dưới về hướng hai hố amiđan) cũng tham gia vào việc làm phong phú thêm bệnh cảnh này (Vì cũng tạo cho bệnh nhân có cảm giác vướng, đau tai, đau trong họng khi nuốt).
Vài bệnh lý thuộc về thần kinh như bệnh đau dây thần kinh 10, bệnh rối loạn cảm giác họng, nuốt nghẹn do nguyên nhân tâm lý, do stress cũng cần được lưu ý trong chẩn đoán phân biệt.

Viêm họng cấp tính

Viêm họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến, thường xuất hiện với các bệnh viêm VA, viêm amiđan. Nguyên nhân có thể do vi khuẩn (phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng) hay virus cúm, sởi…

Bệnh thường khởi phát đột ngột, người bệnh sốt cao 39-40 độ C, nuốt đau, rát họng. Lúc đầu, bệnh nhân thấy khô nóng trong họng, dần dần thành cảm giác đau rát, tăng lên khi nuốt, khi ho và khi nói. Người bệnh thấy đau lên tai và đau nhói khi nuốt. Các triệu chứng kèm theo là sụt sịt, tắc mũi và chảy nước mũi nhày, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan. Hai amiđan viêm to, trên bề mặt amiđan có chất nhày trong, có khi có bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt, hạch cổ bị sưng.

Bệnh thường diễn biến trong 3-4 ngày, nếu sức đề kháng tốt, bệnh sẽ lui dần, các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh. Nếu có bội nhiễm có thể, bệnh nhân có thể gặp các biến chứng như viêm tai, viêm mũi, viêm phế quản…

Về điều trị, chữa triệu chứng là chính. Cần dùng thuốc hạ sốt khi bệnh nhân sốt cao. Chống đau họng bằng cách súc họng hằng ngày bằng nước muối loãng. Trẻ em bôi họng bằng glyxerin borat 5%, nhỏ mũi bằng thuốc argyrol 1%. Dùng kháng sinh khi có biến chứng như viêm thận, viêm khớp, viêm phế quản, viêm tai giữa… Nếu bị viêm họng cấp tái phát nhiều lần kèm theo có anbumin trong nước tiểu, nên cắt amiđan.

Để dự phòng, nên nhỏ mũi bằng dầu gô-mê-non hoặc tỏi pha loãng khi xung quanh có nhiều người viêm họng

Viêm họng đỏ

Thực chất là viêm cấp tính niêm mạc họng hoặc Amiđan hay gặp vào mùa lạnh, khi thời tiết thay đổi.

2.3.1. Nguyên nhân.

- Virus: cúm, sởi.

-  Vi khuẩn: phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng.
2.3.2. Triệu chứng (do virus)

Triệu chứng toàn thân

- Bắt đầu đột ngột, ớn lạnh, sốt cao 390C- 400C, nhức đầu, đau mình, ăn ngủ kém.

- Hạch cổ sưng, đau

Triệu chứng cơ năng

- Lúc đầu có cảm giác khô nóng trong họng, khát nước, dần dần cảm giác đau rát tăng lên khi nuốt và khi nói, đau lan lên tai và đau nhói khi nuốt.

- Ngạt tắc mũi và chảy nước mũi nhầy.

- Tiếng nói mất trong và khàn nhẹ.

- Ho khan.

Triệu chứng thực thể

- Toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực. Màn hầu, trụ trước, trụ sau và thành sau họng phù nề, đỏ.

- Hai Amiđan viêm to, trên bề mặt Amiđan có chất nhầy trong. Đôi khi có bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt hoặc miệng các hốc Amiđan.

Xét nghiệm: Bạch cầu trong máu không tăng.

2.3.3. Tiến triển

- Bệnh diễn biến trong 3-4 ngày, nếu sức đề kháng tốt bệnh sẽ lui dần các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh.

- Nếu có bội nhiễm do liên cầu, tụ cầu, phế cầu các biến chứng sẽ xảy ra như: viêm tai, viêm mũi, phế quản phế viêm.

2.3.4. Thể lâm sàng

-  Viêm họng đỏ do cúm: thành từng vụ dịch với các triệu chứng khá nặng, nhức đầu, đau rát họng, xuất huyết ở thành sau họng.

-  Viêm họng đỏ do vi rút APC (Adeno – Pharyngo- Conjonctivite) ở trẻ em: xuất tiết mũi, niêm mạc họng đỏ, viêm màng tiếp hợp và sưng hạch cổ, bệnh tiển triển 3-5 ngày.

- Viêm họng đỏ do vi khuẩn: viêm V.A và viêm Amiđan. Có thể gây các biến chứng thấp tim, viêm cầu thận cấp… Hạch thường sưng to, bạch cầu tăng cao trong máu.

- Viêm họng đỏ do thuốc: gặp ở những người dị ứng với một số loại thuốc, sau khi dùng thuốc sẽ đau rát họng và xuất tiết mũi.

2.3.5. Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

- Dựa vào các triệu chứng: sốt cao đột ngột, đau rát họng, nuốt đau.

- Khám: niêm mạc họng đỏ rực, màn hầu, trụ trước, trụ sau và thành sau họng phù nề, đỏ. Hai Amiđan sung huyết đỏ, trên bề mặt có chất nhầy trong hoặc bựa trắng.

- Xét nghiệm: Bạch cầu trong máu không tăng (nguyên nhân do vius).
Chẩn đoán phân biệt

- Giang mai giai đoạn II: niêm mạc họng đỏ, nhưng không sốt cao. Xét nghiệm BW (+).

- Phản ứng do ngộ độc: họng đau rát, nề đỏ. Nhưng không sốt, có ban đỏ ngoài da.

2.3.6. Điều trị: Giải quyết triệu chứng là chính

- Nghỉ ngơi, giữ  ấm

- Hạ sốt: Aspirin, A.P.C, Analgin, Paracetamol, Efferalgan…

- Chống đau họng: hàng ngày súc họng bằng các dung dịch kiềm ấm như: nước muối, dung dịch clorat kali 1% hoặc BBM, trẻ em bôi họng bằng glyxerin bôrat 5%.

- Chống xuất tiết mũi: nhỏ mũi Argyron 1% (tối đa 3 ngày).

- Khí dung họng: kháng sinh + corticoid.

- Dùng kháng sinh toàn thân khi có bội nhiễm hoặc nguyên nhân do vi khuẩn.

2.3.7. Dự phòng

- Không dùng chung khăn mặt, bát đĩa cốc chén với bệnh nhân.

- Nhỏ nước muối sinh lý hoặc nước tỏi pha loãng khi xung quanh có nhiều người viêm họng cấp tính.

- Cắt Amiđan khi bị viêm tái phát nhiều lần.

Viêm họng bựa trắng thông thường

Là một bệnh viêm họng cấp tính nặng và thường có các biến chứng thấp tim, viêm cầu thận cấp… cần được phát hiện và điều trị kịp thời.

2.4.1.Nguyên nhân

Do vi khuẩn thường là do liên cầu, đặc biệt là liên cầu khuẩn tan huyết b nhóm A.

Lây truyền bằng đường nước bọt.

2.4.2.Triệu  chứng

Triệu chứng toàn thân: khởi phát thường rầm rộ, bệnh nhân sốt cao 380C-390C có rét run hoặc ớn lạnh, thể trạng mệt mỏi rõ rệt, nhức đầu nhiều.

Triệu chứng cơ năng

- Đau họng: rát họng, nuốt đau nhói lên tai.

- Khàn tiếng nhẹ.

Triệu chứng thực thể

- Hai Amiđan to đỏ thẫm, các khe giãn. Một lớp bựa trắng bao phủ miệng khe. Lớp bựa này đầu tiên màu trắng kem sau trở lên vàng xám và chỉ khu trú ở Amiđan và có thể dùng bông chùi đi mà không gây ra chảy máu.

- Trụ trước, trụ sau, lưỡi gà và màn hầu xung huyết đỏ nhưng không nề.

- Ở thành sau họng có vài đảo lympho bị viêm có bựa trắng.

- Các hạch ở vùng sau góc hàm bị sưng đau.

Xét nghiệm

- Quệt họng để soi cấy tìm vi khuẩn: liên cầu khuẩn tan huyết b nhóm A.

-  Số lượng BC tăng từ 10.000 tới 12.000.

- Tốc độ máu lắng tăng cao, có thể có Albumin trong nước tiểu.

2.4.3. Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

- Dựa vào sự khởi phát của bệnh.

- Triệu chứng thực thể khi khám họng (lớp bựa trắng phủ lên bề mặt Amiđan).
- Xét nghiệm: Cấy khuẩn tìm thấy liên cầu khuẩn tan huyết b nhóm A. Xét nghiệm máu BC tăng cao.

Chẩn đoán phân biệt

-  Bệnh bạch hầu: thường xảy ra thành dịch. Khám họng thường thấy có giả mạc, giả mạc gắn chặt vào niêm mạc, khi bóc ra thì chảy máu, giả mạc mọc rất nhanh, lan ra các trụ và màn hầu, giả mạc không tan trong nước. Bệnh cảnh nhiễm trùng, nhiễm độc rõ. Hạch ở cổ, dưới cằm nổi nhiều và nhanh. Trước một bệnh nhân như vậy bao giờ cũng quyệt họng để cấy khuẩn.

-  Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân: Hạch cổ to, suy nhược, viêm họng trắng, loét họng. Trong máu tế bào đơn nhân tăng cao.

2.4.4. Điều trị

-  Điều trị kháng sinh bệnh diễn biến tốt, thuyên giảm trong vòng 24 giờ (Cephalothin, Amikacin, Gentamicin …).

- Hạ sốt.

- Điều trị tại chỗ: súc họng, khí dung.

-  Cắt Amiđan khi bệnh ổn định. Đặc biệt là bệnh nhân có Albumin trong nước tiểu.

2.4.5. Biến chứng

Bệnh thường kéo dài 10 ngày mới khỏi hẳn, nếu kéo dài hơn dễ gây nên các biến chứng vào tuần thứ hai, thứ ba.

- Gây thấp tim, viêm cầu thận cấp.

- Viêm tấy quanh Amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản.

- Viêm hạch mủ.

-  Nhiễm trùng huyết.

Chữa viêm họng cho trẻ

Những ngày đầu mới bệnh thường là do virút vì vậy không cần uống kháng sinh, chủ yếu là vệ sinh mũi họng cho bé. Nếu sốt từ 38,5o, nên cho uống hạ sốt như: paracetamol. Nếu bé chỉ ấm đầu (37 – 38,5o) lau bằng nước ấm, uống nhiều nước và ăn nhiều hoa quả.

Nếu không bị bội nhiễm, bệnh sẽ tự khỏi trong vòng từ 5 – 10 ngày. Nếu bé sốt cao 3 ngày liên tục, phải đưa bé đi bệnh viện khám để loại trừ bệnh sốt xuất huyết và xác định chính xác bé bị nhiễm virút hay nhiễm trùng. Vì nhiễm trùng nếu không uống kháng sinh, bé sẽ không tự khỏi bệnh.

Trong trường hợp viêm mũi họng do vi khuẩn, cần dùng thêm kháng sinh như: amoxicilin, cloxacilin, các cephalosporin (cephalexin)… theo hướng dẫn của bác sĩ.

Để phòng bệnh trong những ngày thời tiết trở lạnh, nên cho bé mặc đồ ấm, chú ý giữ ấm phần cổ và chân. Nên xoa dầu khuynh diệp vào lòng bàn chân và mang tất cho bé, xoa kỹ vùng huyệt dũng tuyền là chỗ lõm giữa 2 gò nổi của ngón chân cái và những ngón còn lại.

Bệnh và thuốc

 

 

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

No comments yet.

Viết phản hồi