3:43 am - Wednesday October 1, 2014

Bệnh ung thư vòm họng

Bệnh ung thư vòm họng

1. Đại cương:
Bệnh ung thư vòm họng (NPC – Nasopharyngeal Carcinoma) ở nước ta có tỷ lệ cao, đứng hàng đầu trong ccác bệnh ung thư đầu cổ, đứng hàng thứ 5 trong các bệnh ung thư nói chung. Nhưng các triệu chứng lại không điển hình hầu hết là các triệu chứng "mượn" của các cơ quan lân cận như: tai, mũi, thần kinh, hạch…do đó việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn. Cần phát hiện sớm, điều trị kịp thời để cứu sống bệnh nhân.
1.1. Giải phẫu vòm họng.
Cấu tạo giải phẫu: vòm họng còn gọi là họng mũi, thuộc lá thai trong có cấu
trúc là một hình hộp có sáu mặt.
- Mặt trước là cửa mũi sau.
- Mặt sau là niêm mạc họng và cân quanh họng, liên quan với xương chẩm, đốt sống cổ 1, 2.
- Hai bên là loa vòi nhĩ cách đuôi xương xoăn dưới khoảng 1 cm, xung quanh loa vòi có tổ chức bạch huyết gọi là amiđan gerlach. Phía trên gờ vòi nhĩ hai bên có hố Rosenmuller.
- Mặt trên là bờ dưới của thân xương bướm và mảnh nền của xương chẩm. Ở mặt này tổ chức bạch huyết tập trung thành đám gọi là amiđan luschka. Khi tổ chức này quá phát được gọi là viêm V.A.
- Mặt dưới thông với họng miệng.
Mạch máu nuôi dưỡng: là động mạch bướm khẩu cái, xuất phát từ động mạch hàm trong (là 1 trong 2 ngành cùng của động mạch cảnh ngoài).
Tổ chức học: phần trên được cấu tạo bởi biểu mô trụ đơn có lông chuyển thuộc niêm mạc đường hô hấp. Phía dưới là lớp biểu mô lát tầng thuộc niêm mạc đường tiêu hoá.
Thiết đồ bổ dọc qua vòm họng
1.2. Lịch sử nghiên cứu về ung thư vòm họng.
- Trong nghiên cứu các xác ướp ở Ai Cập, Elliot Smith đã phát hiện được hai sọ người có tổn thương ở nền sọ như thương tổn của bệnh ung thư vòm họng.
- Theo Fardel năm 1837 ở châu Âu đã có những bệnh án đầu tiên của bệnh nhân có bệnh cảnh giống ung thư vòm họng.
- Tại Việt Nam cố giáo sư Trần Hữu Tước đã nghiên cứu trên 612 bệnh nhân ung thư vòm họng tại Bệnh viện Bạch Mai (1955 – 1964).
1.3. Dịch tễ học:
- Thế giới: ung thư vòm mũi họng xuất hiện nhiều ở Trung Quốc, Châu Phi và một số nước Đông nam Á, rất hiếm gặp ở Châu Âu, Châu Mỹ. Đặc biệt là vùng Quảng Đông (Trung Quốc) gặp nhiều với tỷ lệ: 30-45 bệnh nhân/100.000 dân/năm. Người ta còn gọi ung thư vòm họng là U "Quảng Đông".
- Việt Nam: vẫn chưa có một thống kê đầy đủ, chính xác. Nhưng theo thống kê của Bệnh viện K-Hà Nội (1998) thì ung thư vòm họng đứng hàng thứ4, 5 sau ung thư phổi, tử cung buồng trứng, vú, ung thư gan và là bệnh đứng đầu trong cácung thư vùng đầu, cổ với tỷ lệ: 9-10 bệnh nhân/100.000 dân/năm.
- Giới tính hay gặp ở nam giới, tỷ lệ nam/nữ: 2-3/1.
- Tuổi: bệnh thường xuất hiện từ 20 tới 65 tuổi, sau 65 tuổi tỷ lệ bệnh giảm dần.
1.4. Yếu tố liên quan.
- Yếu tố môi trường: bao gồm điều kiện vi khí hậu, bụi khói, tình trạng ô nhiễm và tập quán ăn uống (ăn cá muối, tương, cà và những chất mốc… do những thứ này chứa nitrosamine chất gây ung thư).
- Do Virus Epstein Barr (EBV): đây là loại virút ở người thuộc nhóm Herpès là nguyên nhân gây bệnh u lympho Burkitt ở trẻ em. Những năm gần đây người ta hay nói đến sự liên quangiữa UTVH với EBV, do phát hiện được bộ gen của EBV trong tế bào khối u vòm họng và trong huyết thanh người bệnh ung thư vòm họng, hiệu giá kháng thể IgA kháng VCA-EBV rất cao, trong khi đó lại rất thấp hoặc không có ở huyết thanh người bình thường hoặc bị các bệnh ung thư khác.
- Yếu tố gen di truyền: gần đây có một số tác giả cho rằng những người cùng huyết thống có khả năng cùng mắc bệnh UTVH. Ngành di truyền học đã tìm thấy khoảng 30 gen ung thư nội sinh. Những gen này bình thường ở trạng thái tự động đóng lại và nằm im nhưng nếu có một cơ chế cảm ứng nào đó, gen ung thư sẽ thức dậy và gây nên hiện tượng phát triển vô tổ chức tạo ra ung thư.
- Tuy nhiên nhiều tác giả cho rằng căn nguyên của ung thư vòm họng không phải là đơn độc mà do nhiều yếu tố cùng tác động gây nên. Vì vậy công tác phòng chống ung thư vòm họng phải làm ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực khác nhau mới mang lại kết quả.
1.5. Mô bệnh học:Theo phân loại của (WHO – 1978):
- Hay gặp nhất là ung thư biểu mô không biệt hoá (UCNT – Undifferenciated carcinoma nasopharynngeal type) chiếm 75% – 85%.
- Loại ung thư biểu mô biệt hoá (CS – Carcinoma spinocellulaire) chiếm 10% – 15%.
- Ung thư liên kết (sarcoma) hiếm gặp khoảng: 5%.
- Hạch cổ khi sinh thiết làm giải phẫu bệnh lý: đồng nhất với kết quả giải phẫu bệnh lý của vòm họng (nguyên phát).
2. Lâm sàng.
2.1. Giai đoạn đầu: các triệu chứng âm thầm nên rất khó phát hiện. Đau đầu là triệu chứng sớm, thường đau nửa đầu, từng cơn hoặc âm ỉ. Dùng các thuốc giảm đau ít có tác dụng.
2.2. Giai đoạn khu trú.
Triệu chứng cơ năng:
- Triệu chứng thần kinh: hay gặp nhất là đau đầu, đau nửa đầu hoặc đau sâu trong hốc mắt, vùng thái dương và xuất hiện tổn thương các dây thần kinh sọ não trong trường hợp bệnh nhân đến muộn như: có cảm giác tê bì ở miệng và vùng mặt cùng với bên đau đầu do dây thần kinh tam thoa bị chèn ép.
- Triệu chứng mũi – xoang: ngạt mũi một bên, cùng với bên đau đầu, lúc đầu ngạt không thường xuyên sau ngạt liên tục. Hay gặp nhất là chảy mũi nhầy, có thể chảy mũi mủ do viêm xoang phối hợp, thỉnh thoảng có xì ra nhầy lẫn máu.
- Triệu chứng tai (khối u xuất phát từ thành bên họng mũi, loa vòi): có cảm giác tức như bị nút ráy tai cùng bên với đau đầu. Ù tai, nghe kém thể dẫn truyền đơn thuần (do bị tắc vòi Eustache). Có thể gặp viêm tai giữa cùng bên do bội nhiễm.
- Triệu chứng hạch cổ và hạch dưới hàm: phần lớn bệnh nhân đến khám vì xuất hiện hạch cổ, thường hạch cổ cùng bên với khối u. Dễ chẩn đoán nhầm là ung thư hạch tiên phát. Hạch điển hình hay nhìn thấy ở sau góc hàm, dãy hạch cảnh trên, hạch lúc đầu nhỏ sau to dần, hạch cứng, ấn không đau, không có viêm quanh hạch, di động hạn chế dần. Sau cố định dính vào cơ, da.
Triệu chứng thực thể:
- Soi mũi trước không có gì đặc biệt.
- Soi mũi sau có thể thấy khối u sùi hoặc thâm nhiễm ở nóc vòm hay thành bên vòm, ở gờ loa vòi Eustache.
- Sờ vòm bằng tay hay thăm bằng que bông có rớm máu.
2.3. Giai đoạn lan tràn.
Triệu chứng toàn thân: thể trạng đã suy giảm, kém ăn, mất ngủ, gầy sút, thiếu máu, da màu rơm, hay bị sốt do bội nhiễm.
Triệu chứng cơ năng và thực thể: tùy theo hướng lan của khối u sẽ xuất hiện
các triệu chứng khác nhau.
Lan ra phía trước:
- Thường gặp khối u ở nóc vòm, cửa mũi sau.
- U lan vào hốc mũi gây nên ngạt tắc mũi. Lúc đầu ngạt một bên về sau khối u phát triển lấp kín cửa mũi sau gây ngạt tắc hai bên mũi, nói giọng mũi. Chảy mũi mủ có mùi hôi rõ, thường lẫn tia máu, có khi chảy máu cam.
- Khám mũi: thấy khối u sùi, ở sâu sát cửa mũi sau, thường có loét hoại tử, dễ chảy máu.
Lan ra hai bên: Khối u ở loa vòi, lan theo vòi Eustache ra tai giữa.
- Ù tai, nghe kém một bên rõ rệt.
- Đau trong tai lan ra vùng xương chũm.
- Chảy mủ tai lẫn máu, có mùi thối, có khi lẫn mảnh tổ chức hoại tử.
- Soi tai: màng nhĩ thủng, có u sùi, hoại tử, dễ chảy máu, u có thể qua hòm nhĩ và lan ra ống tai ngoài.
Lan xuống dưới:
- U lan xuống dưới đẩy phồng màn hầu là ảnh hưởng đến giọng nói (giọng mũi hở), nuốt hay bị sặc.
- U có thể tới miệng, thường ở sau trụ sau của amiđan.
- Có thể gặp hội chứng Trotter: điếc, khít hàm, liệt màn hầu.
Lan  lên trên:
Ung thư lan lên nền sọ gây các hội chứng nội sọ như: tăng áp lực nội sọ và các hội chứng thần kinh khu trú:
- Hội chứng khe bướm: liệt các dây thần kinh III, VI và nhánh mắt của dây V gây liệt các cơ vận nhãn, đau nhức vùng trán và ổ mắt.
- Hội chứng mỏm đá: liệt các dây thần kinh V, VI gây lác trong, khít hàm, tê bì nửa mặt.
- Hội chứng đá – bướm hay hội chứng Zacod: liệt các dây thần kinh II, III, IV,V, VI gây mù mắt, liệt toàn bộ nhãn cầu, liệt cơ nhai, gây tê bì nửa mặt.
- Hội chứng lỗ rách sau hay hội chứng Vernet: liệt các dây thần kinh IX, X, XI gây liệt họng, liệt màn hầu, có dấu hiệu vén màn hầu, giọng nói đôi, liệt cơ ức đòn chũm, cơ thang.
- Hội chứng lồi cầu – lỗ rách sau hay hội chứng Collet – Sicard: liệt các dây thần kinh IX, X, XI, XII và liệt lưỡi.
- Hội chứng Garcin: toàn bộ 12 đôi dây thần kinh sọ não một bên bị liệt.
3. Chẩn đoán.
Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờ và được khám tỉ mỉ vòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thể thấy một tổ chức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu.
3.1. Sinh thiết khối u, chẩn đoán giải phẫu bệnh lý: là yếu tố chẩn đoán xác định.
3.2. Chẩn đoán tế bào học: có ý nghĩa định hướng (tế bào tại vòm họng hoặc tại hạch cổ).
3.3. Chẩn đoán huyết thanh: phương pháp này dựa vào mối liên quan của EBV với UTVH, có thể tiến hành trên hàng loạt người để phát hiện sớm ngay khi triệu chứng lâm sàng chưa rõ. Nhưng cũng không có giá trị chẩn đoán xác định mà vẫn phải dựa vào kết quả giải phẫu bệnh lý.
3.4. Chẩn đoán X- quang.
- Tư thế Hirtz.
- C.T.Scan vùng vòm họng, nền sọ: đánh giá sự lan tràn và phá hủy của khối u lên nền sọ.
3.5. Chẩn đoán phóng xạ: có thể chẩn đoán sớm được kích thước khối u, chẩn đoán được tình trạng di căn xa của bệnh.
3.6. Chẩn đoán giai đoạn:
Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union internationale contre le cancer) – 1987 xếp loại giai đoạn UTVH.
Phân loại T.N.M
- T (Tumor): khối u nguyên phát.
Tx: không rõ khối u.
Tis: (insitu) khối u nhỏ khu trú dưới niêm mạc.
To: không có u (soi vòm chưa thấy khối u)
T1: khối u khu trú ở 1 vị trí giải phẫu.
T2: khối u đã lan ra 2 vị trí khác.
T3: khối u lan vào hốc mũi, xuống dưới màn hầu.
T4: khối u đã phá huỷ xương nền sọ hoặc gây tổn tương các dây thần kinh sọ não.
N (Node): hạch cổ.
No: không sờ thấy hạch cổ.
N1: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 3 cm.
N2: hạch cổ phân làm 3 mức.
N2a: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT: 3 – 6 cm
N2b: nhiều hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 6 cm
N2c: hạch cổ 2 bên hoặc đối bên, di động, KT< 6 cm
N3: hạch cổ đã cố định (kể cả hạch cổ 1 bên) hoặc KT> 6 cm.
-M (Metastasis): di căn xa.
Mo: chưa xuất hiện di căn xa.
M1: đã xuất hiện di căn xa (căn cứ vào X-quang và siêu âm để chẩn đoán).
Phân loại giai đoạn lâm sàng.
Giai đoạn I: T1NoMo
Giai đoạn II: T2NoMo
Giai đoạn III: T3NoMo, T1-3N1Mo
Giai đoạn IV: T4No-1Mo, N2-3Mo và các T
M1 (các T và các N).
3.7. Chẩn đoán phân biệt.
-  U xơ vòm mũi họng.
-  Polype mũi sau.
-  Tồn dư tổ chức V.A.
4. Diễn biến và tiên lượng.
4.1. Giai đoạn đầu.
Khu trú, tiến triển chậm, ít ảnh hưởng tới toàn thân, thường kéo dài 1- 2 năm nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời đúng phác đồ có thể khỏi bệnh.
4.2. Giai đoạn lan tràn.
Ảnh hưởng tới toàn thân rõ, tiến triển nhanh thường tử vong do khối u lan lên nền sọ, do di căn tới các phủ tạng như phổi, gan, xương.
5. Điều trị.
Do khối u nằm trong hốc sâu, gần nền sọ, nên điều trị khó khăn, kết quả bị hạn chế, tiên lượng xấu.
5.1. Xạ trị.
-  CO 6olà biện pháp điều trị chủ yếu và cho kết quả khả quan nếu bệnh nhân đến sớm, nhất là đối với thể ung thư biểu mô không biệt hoá.
U nguyên phát được tia vào vùng cổ bên, với liều 65 – 70 Gy trong vòng từ 6 đến 7 tuần.
Các hạch cổ  hoặc dưới hàm được tia với liều 50Gy trong thời gian 6 đến 7 tuần.
- Cắm kim vào u và hạch trong trường hợp xạ ngoài đã đủ liều nhưng khối u chưa hết.
5.2. Phẫu thuật: phẫu thuật nạo vét hạch cổ trước hoặc sau xạ trị.
5.3. Hoá trị liệu:chỉ áp dụng với thể ung thư biểu mô không biệt hoá hoặc hạch cổ đã lan rộng và có di căn xa.
5.4. Miễn dịch trị liệu: tác dụng tăng sức đề kháng và hỗ trợ trong xạ trị.
6. Phòng bệnh ung thư vòm mũi họng.
Hiện nay người ta cho rằng: 70 % nguyên nhân ung thư do yếu tố ngoại lai, còn 30% do yếu tố nội tại và do yếu tố di truyền cho nên: phải có chế độ ăn hợp lý: giảm mỡ động vật, ít ăn thịt thay bằng rau hoa quả có nhiều Vitamin C, E.
benhvathuoc.com

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

3 Responses to “Bệnh ung thư vòm họng”

  1. 08/10/2011 at 6:03 pm #

    Bệnh ung thư vòm họng có cơ hội chữa khỏi không ? tuổi thọ của bệnh nhân có thể kéo dài lâu không?

  2. 08/10/2011 at 6:03 pm #

    Trả lời
    Ung thư vòm họng nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời khả năng hồi phục rất lớn. Người bệnh có thể sống thêm 15-20 năm. Còn nếu phát hiện chậm, bệnh có nguy cơ tử vong rất cao.

    Bệnh nhân ung thư vòm thường được khám và phát hiện bởi bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng vì các triệu chứng ù tai, nghẹt mũi, chảy nước mũi… nhưng được điều trị xạ trị bởi bác sĩ chuyên khoa ung thư, việc tái khám để theo dõi kết quả điều trị được phối hợp bởi liên chuyên khoa này, một số trường hợp còn phải kết hợp xạ trị và phẫu thuật lấy hạch cổ tái phát.

  3. 08/10/2011 at 6:13 pm #

    Cách chữa ung thư vòm họng di căn lên não
    Có 4 nguyên nhân gây ra bệnh ung thư vòm họng :

    Thiếu máu, áp huyết thấp dưới 100mmHg liên quan đến chức năng của 3 tạng vị-phế-thận. Nguyên nhân do chức năng vị không chuyển hóa thức ăn, bao tử chứa thức ăn lên men bốc hỏa lên họng. Nguyên nhân do phế hư nhiệt làm viêm cổ họng. Nguyên nhân do chức năng thận hư nhiệt không đưa thủy khí lên họng. Khi thận hư không dẫn khí huyết lên nuôi não.

    Ung thư là những tế bào không đủ máu đến nuôi dưỡng, bị hủy hoại dần rồi bị cô lập trở thành tế bào ung thư, giống như một cây không được tưới nước tế bào sẽ chết dần.

    Tây y gọi là di căn thực ra theo đông y, bệnh truyền kinh, như vị thổ hư không nuôi phế kim, phế kim hư mà thiếu máu và thiếu oxy, các tế bào nuôi phổi ở một nơi nào trong phổi bị cô lập trở thành tế bào ung thư, phế kim hư không nuôi thận thủy, thì thận cũng hư, tế bào chỗ nào do thận nuôi không cung cấp đủ máu và oxy cũng sẽ bị cô lập trở thành tế bào ung thư như ung thư xương, tủy, não, họng, thận, bàng quang. Khi thận hư sẽ truyền bệnh cho con là gan cũng thiếu máu thiếu oxy thì gan cũng sẽ bị ung thư mà tây y gọi là di căn. Con đường đi của bệnh truyền kinh đông y biết trước, nhưng tây y chụp hình, thử nghiệm chưa thấy, khi thấy rõ và xác nhận là ung thư rồi mới chữa thì đã qúa muộn.

    Trong trường hợp ung thư vòm họng, khi đang chữa ung thư vòm họng chưa khỏi, thì bệnh đã truyền kinh vào thận và sang gan, một thời gian sau tái phát, tây y lại gọi là di căn. Một thầy thuốc đông y giỏi, biết chữa vào gốc bệnh là làm tăng máu, tăng khí lực là tăng oxy, để đem oxy và máu đến nơi có những tế bào ung thư để tiêu diệt.

    Lý thuyết đông y có câu nói : Thầy thuốc giỏi (bậc thượng công) chữa khi chưa bị bệnh. Theo tây y, nghe có vẻ hoang đường, chưa có bệnh thì chữa vào đâu, chữa cái gì. Đấy là vì không biết luật khí hóa ngũ hành truyền kinh. Chữa khi chưa bệnh là ngừa trước tạng phụ sắp bị truyền kinh, giúp chức năng khí huyết của nó hoạt động mạnh lên để tự bảo vệ mình không bị tà khí xâm nhập, ngăn cản không cho bệnh nơi khác truyền kinh sang tạng phủ của mình.

    Vì thế cách chữa theo đông y khí công cũng áp dụng điều chỉnh Tinh-Khí-Thần theo quy luật này, là vừa chữa gốc vừa ngừa biến chứng truyền kinh, thì những dấu hiệu bệnh đang có tự nhiên hết, không cần phải chữa ngọn.

    Cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần :

    Tinh :

    Cần bổ máu cho tăng áp huyết, ngăn ngừa những chất làm phá máu hạ áp huyết.

    1-Uống Acti-B12 bổ máu vào mỗi buổi sáng .

    2-Trước mỗi bữa ăn 5 phút uống 2 muỗng sirop bổ máu Đương Quy Tửu pha với 1 ly nước nóng để kích thích chức năng tiêu hóa tăng tính hấp thụ và chuyển hóa chất bổ của thức ăn biến thành máu mà không biến thành đàm. Uống đến khi nào áp huyết hai bên tay lên đều đúng số tuổi của trung niên là an toàn, lúc đó hết bệnh đau nửa đầu và tập khí công mỗi ngày cho đến khi bướu teo nhỏ.

    3-Trong bữa ăn phải có những chất tạo máu như củ dền, thịt bò bít tết, rau dền, hải sâm, lẩu đồ biển, canh khoai sọ, canh phổi heo rau răm…Không được ăn những chất chua sẽ phá máu, làm hạ áp huyết như cam, chanh, bưởi, yaourt…

    4-Phòng ngừa khi vòm họng chớm đau trở lại. Pha 1 muỗng dấm táo với 1 ly nước ấm nóng vừa uống, ngậm 1 ngụm nước dấm táo, nằm ngửa cho dấm táo sát trùng cổ họng 5 phút, rồi nhổ ra, không được uống hay nuốt vào miệng.Lập lại nhiều lần cho đến khi hết ly nước dấm táo. Có thể làm mỗi ngày 2 lần, rồi xúc miệng lại bằng nước muối.

    5-Khi họng đau : Mua 1 lọ thuốc Tri Bá Bát Vị Hoàn, bỏ vào miệng ngậm 5 viên như ngậm kẹo cho tan dần rồi nuốt chứ không uống. Cứ khi nào hết lại ngậm tiếp. Mục đích làm cổ họng tiết nước miếng, tạo ra thuốc chữa bệnh vòm họng, làm mạnh chức năng thận là chữa gốc gây ra bệnh ung thư vòm họng. Nó cũng có công dụng điều chỉnh âm dương, tâm-thận để áp huyết được ổn định.

    6-Sau mỗi bữa cơm, pha 1 muỗng bột Điền Thất sống với 1 ly nước nóng, khuấy đều uống như trà, giúp bổ khí, tan máu ứ bầm,tiêu bướu, thông khí huyết .

    Khí :

    1-Tập 7 bài đầu khí công, cần nhất là bài Cào Đầu làm thông máu não, tan bướu, và bài Vuốt Cổ làm tăng sự kích thích tuyến hạch cổ tiết hormone để điều chỉnh bệnh.

    2-Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần, vừa hát one, two, three…vừa vỗ tay ra sau, trên, sau, trước, tập theo băng DVD trong bài tập thể dục động công trong lớp ở Toronto. Mục đích tăng khí lực cho tâm-phế, kích thích hạch nước mìếng ở cổ họng.

    3-Tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần cung cấp máu lên nuôi não làm tăng áp huyết lên đầu, cung cấp máu cho tế bào lành, cung cấp oxy lên não tiêu diệt tế bào ung thư.

    4-Nếu đo áp huyết hai tay, bên nào thấp thì bấm huyệt Ế Phong bên tai đó cho áp huy ết lên cao, rồi bấm lại cả hai bên tai cho áp huyết hai bên lên bằng nhau, để khí huyết lên não hai bên đều nhau, sẽ không còn bị đi lảo đảo hay chóng mặt.

    5-Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần rồi tập tiếp bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, sau khi tập xong, ngậm miệng cuốn lưỡi vừa để giữ khí, làm tăng áp huyết, (ngược với mở miệng làm hạ áp huyết), vừa kích thích cổ họng tiết ra nước miếng để chữa vòm họng, vừa đưa khí huyết nhiệt lên đầu làm cho trán xuất mồ hôi. Tập bài này nhiều lần trong ngày, ít nhất 3-5 lần

    6-Khi nào cảm thấy muốn ho, dùng 1 ngón tay ấn đè vào huyệt Thiên Đột để hạ đàm, để làm mềm cơ lưỡi, khích thích lưỡi nuốt nước miếng. Còn cuốn lưỡì lên vòm họng trên làm ướt vòm họng, sẽ không bị hư nhiệt làm phồng dộp vòm họng. Để ý khi nào mầu đỏ bầm của lưỡi và cạnh lưỡi có nhiều vết nhăn như răng cưa là tình trạng đang bệnh nặng. Khi lưỡi láng, trơn, hồng, tươi, cạnh lưỡi tròn trơn, láng, hết vết nhăn răng cưa, ăn, nói, nuốt không đau, là bệnh đang khỏi dần.

    7-Tối đi ngủ day huyệt rồi dán cao nóng vào hai huyệt Chiếu Hải, Phục Lưu ở hai chân giúp thận chuyển hóa khí lên vòm họng.

    8-Tập điều chỉnh thăng bằng với những bài Vặn Mình 2 Nhịp 20 lần. Hạc Tấn Nhắm Mắt mỗi bên chân đứng lâu 1 phút, tập 5 phút. Tập bài Chachacha 4 Nhịp bên trái bên phải để đi được nhanh và vững, bài này giúp não và thận hoạt động đồng bộ.

    9-Đo áp huyết vào mỗi tối để theo dõi sự tiến trỉển của bệnh, nếu áp huyết càng ngày càng tăng lọt vào tiêu chuẩn là đúng, áp huyết càng ngày càng thấp dần xuống là sai.

    Thần :

    Tối trước khi đi ngủ 30 phút, tập thở Đan Điền Thần :

    Nằm ngửa, người nam. tay trái để ở mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, tay phải chồng lên trên. Nữ, đặt tay ngược lại. Nhắm mắt, cuốn lưỡi, ngậm miệng, thở bằng mũi bình thường, chỉ cần theo dõi bụng phồng-xẹp theo hơi thở ra vào, cho đến khi bụng sôi, mềm, ấm nóng, bàn tay rịn mồ hôi là đúng. Bài này làm tăng hồng cầu, oxy, tăng áp huyết, an thần, ngủ ngon.

    Tất cả các bài tập khí công đều phải tập đều đặn mỗi ngày 2 lần để tạo ra nội dược, tương đương với thuốc ngoại dược mà không có phản ứng phụ

    Thân

    Doducngoc

Viết phản hồi