11:46 am - Wednesday October 1, 2014

Bệnh trầm cảm

Hội chứng trầm cảm là loại rối loạn khí sắc thường gặp trong tâm thần học. Có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là 18-45 tuổi[1], phụ nữ nhiều hơn nam giới với tỷ lệ giới tính: nam/nữ = 1/2, giá trị này chỉ là ước chừng vì còn tùy vào nền văn hóa và dân tộc[2]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, bệnh trầm cảm cướp đi mỗi năm trung bình 850 000 mạng người, đến năm 2020 trầm cảm là căn bệnh xếp hạng 2[3] trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu người mắc bệnh[4]. Nhưng chỉ khoảng 25 % trong số đó được điều trị kịp thời và đúng phương pháp.

Ước tính, có khoảng 3% đến 5% dân số thế giới có rối loạn trầm cảm rõ rệt. Tần suất nguy cơ mắc bệnh trầm cảm trong suốt cuộc đời là 15 – 25%[3][5].Hội chứng này có tỷ lệ cao ở những người ly thân, ly dị, thất nghiệp

Biểu hiện

Hình thức của một người có thể gợi ý về trường hợp trầm cảm: không chú ý đến diện mạo, áo quần lôi thôi, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc nóng nảy, giọng nói trầm buồn, đơn điệu[6][1]

Âu lo thường xuyên cùng với sự sợ hãi lan rộng không rõ nguyên do.

Rối loạn chức năng sinh dục: giảm hoặc mất ham muốn tình dục ở cả hai phái[7][8], có thể yếu hoặc mất chức năng cương cứng ở nam giới, lãnh cảm ở phụ nữ.

Các biểu hiện có thể khác của bệnh trầm cảm là cảm giác do dự, không chắc chắn, tiêu chuẩn và đòi hỏi cao, yêu cầu cao với người khác và với chính mình, dễ bị tổn thương, khó thay đổi những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rủ và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng, không có hứng thú làm bất cứ chuyện gì[9]. Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, và người khác, cảm giác tuyệt vọng không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai.

Ngoài ra còn có các biểu hiện thân thể khác đi kèm như kém ăn, mất cảm giác ngon miệng, mất ngủ, tăng hay giảm cân nặng bất thường, thường có cảm giác đau nhức nhiều vùng ở cơ thể, điển hình là cảm giác tức ngực điều này khiến bệnh nhân thường tìm đến các bác sĩ đa khoa.

Đối với những người bệnh nặng hơn còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người thân, tiếp xúc với người khác, đặt biệt là với người khác giới.

Các biểu hiện này có thể gặp ở người khỏe mạnh, bình thường khi gặp chuyện sốc hay buồn bực, vì vậy rất khó có thể phân biệt được đâu là tâm trạng nhất thời và khi nào thì đã mắc phải bệnh.

Để chẩn đoán trầm cảm, người ta thường dựa vào bảng tiêu chuẩn DSM IV hay chuẩn ICD-10 phần F32 của WHO.

Tiêu chuẩn DSM IV dùng chẩn đoán trầm cảm

Trong vòng hai tuần, hầu như mỗi ngày[10]:

Tính khí sầu muộn và/hoặc từ chối những nguồn vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong số các triệu chứng sau:

  • Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng.
  • Mất ngủ hoặc ngủ triền miên.
  • Kích động hoặc trở nên chậm chạp.
  • Mệt mỏi hoặc mất sức.
  • Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi.
  • Giảm khả năng tập trung, do dự.
  • Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.

Chuẩn ICD-10 F32

Theo ICD[10]:

  • F32.0 Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bị bệnh cảm thấy không được khỏe và tìm sự giúp đỡ của bác sĩ, sinh hoạt bình thường).
  • F32.1 Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu trong công việc và việc nhà không thể đảm nhiệm nổi).
  • F32.2 Trầm cảm nặng (bệnh nhân cần được điều trị).
  • F32.3 Trầm cảm nặng kèm theo những biểu hiện thần kinh khác.
  • F32.8 và 9 Những giai đoạn trầm cảm khác.

Nguy cơ tự sát ở người bị trầm cảm

Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% những trường hợp tự sát.Theo các thống kê thì tuy nam giới ít bị trầm cảm hơn, nhưng khi rơi vào trầm cảm, xu hướng tự sát lại cao hơn[1].

Những bệnh nhân trầm cảm tự sát đa số ở hai nhóm chính:

  • Nam giới, trên 50 tuổi, sống ở nông thôn.
  • Nữ giới, trẻ tuổi, sống ở thành thị.

Ý đồ tự sát nhiều hơn gấp 10-12 lần so với hành vi tự sát. Nguy cơ cao ở những bệnh nhân mà bản thân hoặc người cùng huyết thống từng tự sát, trầm cảm, nghiện rượu, cũng như ở những người sống cô lập với xã hội[1].

Tự sát có thể đột ngột hay được chuẩn bị trước, âm thầm hoặc báo trước

Phân biệt

Các nguyên nhân gây trầm cảm có thể xếp vào 3 nhóm chính[10]:

  1. Trầm cảm nội sinh (còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân): Có nhiều giả thuyết cho là do di truyền, miễn dịch, môi trường sống và yếu tố xã hội… nhưng chưa có giả thuyết nào có tính thuyết phục.
  2. Trầm cảm do stress: Chẳng hạn như khi mất việc làm, mâu thuẫn trong gia đình, con cái hư hỏng, bị trù dập ở nơi làm việc, làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc có người thân chết đột ngột…
  3. Trầm cảm do các bệnh thực tổn[11]:

A.Các rối loạn nội tiết:

  • Giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism)
  • Bệnh đái đường
  • Hội chứng Cushing

B.Các rối loạn thần kinh:

  • Các tai biến mạch máu não
  • Khối máu tụ dưới màng cứng (subdural hematoma)
  • Bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis)
  • U não
  • Bệnh parkinson
  • Bệnh co giật
  • Sa sút trí tuệ (dementia)

Bệnh trầm cảm được xếp loại thành nguyên phát nếu như các triệu chứng xuất hiện trước và không liên hệ với bất cứ một bệnh nội khoa hoặc tâm thần có ý nghĩa nào khác. Được coi là thứ phát khi bệnh trầm cảm xảy ra sau và có liên hệ với một bệnh nội khoa hoặc tâm thần khác[11].

Dấu hiệu của trầm cảm ở trẻ nhỏ

Biểu hiện điền hình của chứng trầm cảm ở trẻ dưới 6 tuổi là ủ rũ hoặc rất dễ nổi giận nhưng cũng nhanh “quên”, lại vui vẻ khi được chơi đùa hay tham gia các hoạt động. Trẻ trầm cảm thường buồn ngay cả khi đang chơi đùa, chạy nhảy và trò chơi chúng thích thường có chết chóc, u buồn. Không có cảm giác thèm ăn, rối loạn giấc ngủ và thường xuyên cáu giận với những hành động bộc phát như cắn, đá hoặc đám là những dấu hiệu của trầm cảm.

Bà Luby cho biết một dấu hiệu khác là đứa trẻ luôn cảm thấy lo lắng với lỗi lầm chúng gây ra. Ví như, một đứa trẻ 3 tuổi bị trầm cảm chót đánh vỡ cái cốc thì chúng sẽ nói: “Mẹ ơi, con xin lỗi vì đã làm vỡ cốc” và sẽ không thể thoát khỏi cảm giác mắc lỗi này trong những ngày tiếp theo.

Những điều cần lưu ý trong quá trình điều trị:

+ Không nên cố gắng làm việc bằng bất cứ giá nào.

+ Không nên lấy lý do bị trầm cảm để bào chữa cho các vấn đề khó khăn của bản thân trong công việc.

+ Không nên đưa ra những quyết định có tính chất ảnh hưởng đến tương lai trong thời gian đang điều trị.

+ Không nên ngưng việc.

+ Không uống bia, rượu với bất kì lí do nào.

+ Không ngưng thuốc đang dùng hoặc tự ý tiếp tục dùng thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ điều trị.

Thời gian điều trị

Sự kết hợp giữa thuốc chống trầm cảm và điều trị tâm lý sẽ mang lại kết quả khả quan cho người bệnh. Tuy nhiên, bạn cần phải tôn trọng thời gian điều trị.

Thường chỉ sau 15 ngày điều trị, bệnh trầm cảm sẽ cảm thấy sức khoẻ tốt hơn. Hai tháng sau khi điều trị, bệnh nhân có cảm giác mình đã trở lại trạng thái trước khi mắc căn bệnh này.

Tuy nhiên, nếu bệnh nhân dừng lại ở đây thì thật là sai lầm. Kết quả điều trị sẽ là số 0 hoặc số âm. Theo các bác sỹ, việc điều trị cần phải kéo dài trong nhiều tháng sau đó ngay cả khi bạn cảm thấy hoàn toàn khoẻ mạnh. 6 tháng là thời gian ít nhất cho mỗi đợt điểu trị bệnh.

Theo các bác sỹ, mỗi người trong chúng ta nên cố gắng có một cuộc sống cân bằng, vui vẻ và hài hoà. Có như vậy những căn bệnh như stress, trầm cảm… mới không tấn công chúng ta được.

benhvathuoc

 

 

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

One Response to “Bệnh trầm cảm”

  1. 19/11/2011 at 3:56 pm #

    Tránh tái phát trầm cảm

    Hồi phục từ bệnh trầm cảm là một chặng đường dài và đầy khó khăn. Khoảng phân nửa bệnh nhân trầm cảm có khả năng tái phát bệnh.

    Dưới đây là một số cách giúp bạn tránh tái phát bệnh trầm cảm.

    Đừng “gồng gánh” quá nhiều. Bận rộn không phải là vấn đề nghiêm trọng, nhưng bận rộn quá nhiều thì có thể “sinh chuyện”. Tình trạng quá tải tạo ra căng thẳng, vốn là một yếu tố gây trầm cảm. Bên cạnh đó, những hoạt động căng thẳng có thể làm cho sự lo lắng và trầm cảm nghiêm trọng thêm. Theo các chuyên gia, bạn có thể ngăn chặn căng thẳng bằng cách tạo ra sự cân bằng và biết được những giới hạn của mình.

    Tập thể dục thường xuyên. Là một trong những phương cách tốt nhất để ngừa trầm cảm. Kết hợp aerobic với bài tập tăng cường sức bền có tác dụng tốt hơn là chỉ tập aerobic. Các bài tập yoga cũng rất hiệu quả.

    Hoãn các quyết định lớn. Bạn có thể cảm thấy mình là một người mới, nhưng đây không phải là lúc thực hiện những thay đổi lớn, ngay cả những thay đổi mà bạn nghĩ sẽ làm cho mình vui hơn. Theo tiến sĩ Susan L.Marusak thuộc Trung tâm y khoa Đại học California, Los Angeles (Mỹ), cả quyết định tốt lẫn xấu trong khoảng thời gian này đều gây căng thẳng. “Tôi thường khuyên bệnh nhân chờ đợi, nếu có thể, đến lúc họ cảm thấy ổn hẳn trước khi đưa ra một quyết định có thể thay đổi cuộc sống”, ông cho biết.

    Ngừng tự trách mình. Nếu bị trầm cảm, bạn có thể nhiếc móc bản thân về những sai lầm, dù có thật hay tưởng tượng. Nhưng những câu như “Tôi nên làm khác đi” hoặc “Phải chi tôi đừng làm thế” là phản tác dụng, và có thể khiến bạn lún sâu vào tình trạng trầm cảm. “Bạn cần phải biết chấp nhận cái bạn không thể thay đổi và tập trung vào cái bạn có thể”, tiến sĩ Gerard Sanacora, thuộc Đại học Yale (Mỹ), cho biết. Có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ một chuyên gia trị liệu nhận thức – hành vi.

    Chú ý ăn uống, thuốc men. Ăn uống và tập thể dục là “song kiếm hợp bích” trong việc duy trì sức khỏe tinh thần và thể chất. “Một chế độ ăn uống ít chất béo, nhiều rau quả, nhiều cá, đặc biệt là omega-3, và a xít folic rất có ích cho tâm trạng. Tránh rượu và giảm thiểu sử dụng caffeine”, tiến sĩ Marusak nói.

    Cũng theo ông này, cần duy trì việc uống thuốc hoặc theo đuổi các phương pháp trị liệu theo chỉ định của bác sĩ. Việc ngừng điều trị (nếu có) phải tham khảo ý kiến của bác sĩ.

    Quyên Quân

Viết phản hồi