9:43 pm - Wednesday November 26, 2014

Bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu (còn gọi là bệnh trái rạ) bệnh do virus Varicella zoster gây ra. Bệnh chủ yếu ở trẻ em.

TÂY Y

Triệu chứng

Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 – 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 – 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có kích thước từ l – 3 mm đường kính, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.

Bên cạnh mụn nước trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 – 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo.

Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh.Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường.

Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.

Lây lan

Bệnh rất truyền nhiễm và lây lan qua sự đụng chạm đến ban ngứa từ người bị thuỷ đậu hoặc qua những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm (ví dụ, khi một người bị nhiễm trái rạ hắt hơi nhảy mũi hoặc ho).

Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc đến quần áo hoặc vải trải giường bị ô nhiễm bởi chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh.

Bệnh phát triển trong vòng 10-21 ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh.

Bệnh thuỷ đậu có thể lây từ 1-2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).

Những người nào có hệ miễn dịch bị suy yếu mà bị trái rạ thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn thuỷ đậu của họ đóng vảy.

Khoảng 90% những nguời nào chưa từng bị thuỷ đậu trong gia đình thì sẽ bị nếu tiếp xúc với một nguời thân bị nhiễm bệnh.

Biến chứng

Biến chứng của bệnh thủy đậu rất là nhiều, mặc dù đây là một bệnh lành tính, không có triệu chứng nặng nề ngoài những hồng ban mụn nước lan tràn. Tuy nhiên, bệnh có thể có những biến chứng rất quan trọng.

Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng da nơi mụn nước, nặng hơn vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu gây nhiễm trùng huyết. Các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não… là các biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này.

Đặc biệt, thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thuỷ đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt (ngủ đông). Nhiều năm sau đó, có thể là 10, 20, hay 30 năm sau, khi có điều kiện thuận tiện như sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố gì khác, thì siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại và gây ra san thương của bệnh Zona, có người còn gọi là giời leo.

Phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu sẽ rất nguy hiểm vì sẽ dễ bị biến chứng nặng, đặc biệt là viêm phổi. Khi phụ nữ mang thai bị thủy đậu ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sẩy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh… Còn nếu bị trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ bị lây bệnh sẽ bệnh rất nặng với mụn nước nổi rất nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi, Viên đường hô hấp..

Phòng ngừa

Vaccine chống thuỷ đậu có hiệu quả cao và lâu dài, giúp cơ thể tạo kháng thể chống lại virus thủy đậu, được áp dụng đối với các đối tượng sau:

- Tất cả trẻ em từ 12-18 tháng tuổi được tiêm 1 lần.

- Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thuỷ đậu lần nào cũng tiêm 1 lần.

- Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu lần nào thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4-8 tuần.

Hiệu quả bảo vệ của vaccine thủy đậu có tác dụng lâu bền.

Nếu đã được chủng ngừa vaccine thủy đậu thì đại đa số từ 80-90% có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng, nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt, và thường là không bị biến chứng.

Thời gian ủ bệnh của thuỷ đậu là từ 1-2 tuần sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, do đó, nếu một người chưa được tiêm phòng vaccine thuỷ đậu mà có tiếp xúc với bệnh nhân thuỷ đậu, trong vòng 3 ngày ta có thể tiêm ngừa thì vaccine có thể phát huy tác dụng bảo vệ ngay sau đó giúp phòng ngừa thủy đậu do đó phải cẩn thận

Điều trị

1. Fexofenadin (Glodas 60mg): 15 viên, uống ngày 3 lần (sáng – trưa – tối)

2. Chlorpheniramin 4mg (hydrogen maleat): 10 viên, uống ngày 2 lần (sáng – tối)

3. Amoxicilin Medoclav 875mg + 125mg: 14 viên, uống ngày 2 lần (sáng – tối)

4. Etifoxin chlohydrat (Stresam 50mg): 20 viên, uống ngày 2 lần (sáng – tối)

5. Vitamin C (Ascorbic 500mg): 20 viên, uống ngày 2 lần (sáng – tối)

 

ĐÔNG Y

Đại cương

Từ Thuỷ đậu xuất hiện đầu tiên trong sách ‘Sang Dương Kinh Nghiệm Toàn Thư’ (đời nhà Tống). Từ đời nhà Đường về sau đa số cho chứng mụn nước và chứng mụn mủ nước đều là một.

Sách ‘Chứng Trị Chuẩn Thằng – Dương Khoa’ viết: “Hỏa nhiệt khách ở giữa bì phu, bên ngoài không tiết được, kết lại thành mụn nước, to như hạt đậu, bên dưới mầu đỏ, bên trên mặt mầu trắng hoặc bên trên cũng mầu đỏ”, đó là loại mụn nước mủ.

Sách ‘Ngoại Khoa Chính Tông’ viết: “Chứng thiên bào, do tâm hỏa vong động, Tỳ có thấp mọc ở cơ thể trên dưới không đều, nóng lạnh khác thường”, đây là dạng Thuỷ đậu.

Sách ‘Y Tông Kim Giám – Ngoại Khoa Tâm Pháp Yếu Quyết dựa theo vị trí vùng tổn thương phân làm hai loại: “Bắt đầu mọc nhỏ như hạt Khiếm thực (hột súng), to như Thầm tử (trái dâu), bên trong có nước, mầu đỏ là chứng Hỏa xích sang. Nếu trên mặt mầu trắng, bên dưới mầu đỏ gọi là Thuỷ đậu”.

Còn gọi là Thiên Pháo Sang. Dân gian quen gọi là Trái Rạ, thủy đậu, phỏng dạ

Nguyên Nhân

Do Tâm hỏa vong động, Tỳ có thấp. Tùy theo bệnh chứng có thể phân ra như sau:

. Tỳ Thấp Uẩn Kết: Tỳ chủ về thấp, thấp khí kết lại ở da sẽ gây nên mụn nước. Lâm sàng cho thấy đây chính là thủy bào, nhỏ như hạt cây súng, to như hạt Dâu tằm.

. Nhiệt Thịnh Thấp Uẩn: Tâm chủ hỏa, hỏa nhiệt ngừng ở da sẽ gây nên những vết ban đỏ mọc thành từng đám, thành mụn nước

. Khí Âm Tổn Thương: Thấp nhiệt uẩn kết lâu ngày hóa thành táo, làm tổn thương tân dịch, làm hại khí, vì vậy bệnh xuất hiện chậm, thường thấy phần khí và phần âm đều bị tổn thương.

Tóm lại: Tâm kinh có uất nhiệt, hóa thành hỏa, Tỳ hư yếu không vận hành được thủy thấp, hỏa nhiệt và thủy thấp uất kết bên trong, thấp theo hỏa nhiệt ra bên ngoài uất kết ở da gây nên bệnh. nói cách khác, vết ban mọc ở phần trên cơ thể, thường do phong nhiệt, vết ban mọc ở phần dưới cơ thể là nặng, đa số do thấp nhiệt. Bệnh lâu ngày làm cho âm dịch bị hao tổn, nguyên khí bị thụ thương, đa số phần khí và phần âm bị hư yếu.

Điều trị

Thuỷ đậu Tỳ hư uẩn nhiệt:

1. Triệu chứng : Cơ thể, tay chân và niêm mạc miệng có những nốt bỏng nước, nhỏ như hạt đỗ xanh, to như quả Dâu tằm, bên trong có nước trong, nếu vỡ ra thì bề mặt bị lở loét, thấm nước ra nhiều, kèm theo tay chân mỏi mệt, ăn kém hoặc bụng trướng, tiêu lỏng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng bệu, mạch Trầm Nhu hoặc Hoạt Tế.

Điều trị: Thanh nhiệt hóa thấp, lương huyết giải độc.

Phương thuốc : Dùng bài Thanh Tỳ Trừ Thấp Ẩm gia giảm:

Thiên bào sang  tỳ hư uẩn nhiệt Sinh địa 15 Xích phục linh 15 Liên kiều 15
Nhân trần 15 Xương truật 10 Bạch truật 10 Mạch môn 10
Trạch tả 10 Chỉ sác 10 Chi tử 6 Hoàng cầm 6
Xích tiể đậu 30 Bạch hoa xà 30

2. Thuỷ đậu Thấp nhiệt:

Triệu chứng : Trên mặt, ngực, lưng đều thấy các mụn nước lớn mọc thành từng đám, trên bề mặt mụn có nước đục như dầu, thành vẩy, rồi vỡ ra, giống như da cóc, kèm tâm phiền, miệng khô không muốn uống, bụng đầy trướng, lưỡi mạch Huyền Hoạt hoặc Hoạt Sác.

Điều trị: Thanh nhiệt, lương huyết, trừ thấp.

Phương thuốc : Dùng bài Giải Độc Tả Tâm Thang gia giảm:

Thiên bào sang  thấp nhiệt Hoàng cầm 10 Ngưu bàng 10 Phòng phong 10
Hoạt thạch 10 Hoàng liên 6 Tri mẫu 6 Chi tử 6
Kinh giới 6 Thạch cao 12 Huyền sâm 12 Mộc thông 3
Cam thảo 3

3. Thuỷ đậu Khí âm lưỡng thương:

Triệu chứng :  Bệnh nhẹ lâu ngày không khỏi, mụn nước lúc mọc lúc ẩn, kết vẩy khô mà không vỡ ra, tinh thần mệt mỏi, chân tay uể oải, hơi thở ngắn, nói sàm, tự ra mồ hôi hoặc mồ hôi trộm, miệng khô không muốn uống, phiền táo, ít ngủ, bụng đầy trướng, lưỡi nhạt, có vết răng, rêu lưỡi trắng hoặc xanh, mạch Trầm Tế vô lực.

Điều trị: Ích khí, dưỡng âm, phù chính, cố biểu.

Phương thuốc : Dùng bài Sâm Kỳ Tri Mẫu Thang gia giảm:

Thiên bào sang khí âm hư Thiên môn 12 Đẳng sâm 12 Bạch liễm 10
Xương truật 10 Bạch truật 10 Bạch thược 10 Xích Phục linh 10
Tri mẫu 15 Ngân hoa 15 Hoài sơn 30 Lục đậu y 30
Xích tiểu đậu 30 Bạch hoa xà 30

Benhvathuoc.com

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

3 Responses to “Bệnh thủy đậu”

  1. 06/07/2011 at 4:36 pm #

    Cách chữa bệnh thủy đậu không để lại sẹo

    Không cần cho uống thuốc, chỉ kiêng lạnh, kiêng gió, giữ vệ sinh da dẻ thật tốt. Có thể dùng bài thuốc nam: lá dâu 12g, cam thảo đất 10g, kim ngân hoa 12g, kinh giới 6g cho vào ấm sắc lấy nước uống nhiều lần.

    Trường hợp nặng (sốt cao, khát nước, mặt đỏ miệng lưỡi tróc, mụn thuỷ đậu dày và to, quầng đỏ, mụn nước đục, tiểu tiện ít và khó: dùng chủ yếu phép thanh nhiệt giải độc. Kim ngân hoa 12g, lá tre 16g, bạc hà 8g, hoa kinh giới 8g, rau diếp cá 16g, cam thảo đất 12g, quả dành dành 8g sắc lấy nước uống. Nếu có ho, thêm 10g lá chanh, 12g lá táo. nếu ăn không tiêu thêm sơn trang, thần khúc 10g.

    Điều quan trọng nhất là phải chủ động tiêm vaccine phòng ngừa khi trẻ được 12 tháng và có thể tiêm nhắc lại lúc 12 tuổi. Vaccine có hiệu quả phòng bệnh 95% và ngừa bệnh nặng 100%. Nếu bệnh nhân bị lại, thường nhẹ, không quá nguy hiểm.
    Phải hết sực thận trọng chữa trị vì bệnh này có biến chứng, ở nam nhi có thể dẫn đến thụt 1 bên tinh hoàn!
    hic hic!

  2. 06/07/2011 at 4:37 pm #

    Phòng bệnh thủy đậu

    Bệnh thủy đậu xảy ra quanh năm nhưng thời điểm có số ca mắc cao nhất thường từ tháng 2-6. Trong đó, tháng ba là đỉnh điểm, bệnh thủy đậu có khả năng bùng phát thành dịch.

    Bác sĩ Trương Hữu Khanh – trưởng khoa nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM – cho biết:

    - Thủy đậu do virus Varicella zoster gây ra. Phần lớn bệnh nhân (BN) bị nhiễm là trẻ em 5-11 tuổi nhưng bệnh cũng có thể xảy ra ở người lớn. 90% đối tượng chưa chủng ngừa thủy đậu có khả năng mắc bệnh. Điều này có nghĩa là một người chưa được chủng ngừa thủy đậu nếu tiếp xúc với người mang mầm bệnh hoặc BN thủy đậu thì hầu như chắc chắn sẽ bị lây bệnh.

    Đặc trưng của bệnh thủy đậu là ngứa, phát ban ngoài da, ban sẩn có mụn nước, thường kèm theo sốt. Dấu hiệu ban đầu khi khởi bệnh là sốt, mệt mỏi, biếng ăn, đau cơ. Sau đó các nốt rạ xuất hiện ở da đầu, mặt, lan xuống thân và tay chân với số lượng từ 300 đến cả ngàn nốt gây ngứa ngáy, đau nhức rất khó chịu.

    * Bệnh có nguy hiểm và gây biến chứng không, thưa bác sĩ?

    - Bệnh lây lan một cách dễ dàng qua không khí, hít phải nước bọt khi BN hắt hơi, ho hoặc tiếp xúc với mụn nước của người bị bệnh. Bệnh cũng có thể truyền từ mẹ sang con, nếu người mẹ bị bệnh thủy đậu trong lúc mang thai. Đáng lưu ý là khi nhiễm virus thủy đậu, BN thường không có triệu chứng gì trong hai tuần đầu, nhưng từ 2-4 ngày trước khi phát bóng nước (nốt rạ), bệnh đã có khả năng lây nhiễm. Ngay cả khi BN thủy đậu đã phát bóng nước được sáu ngày, siêu vi gây bệnh vẫn có thể lây lan cho người lành.

    Thủy đậu là bệnh có diễn biến nhẹ. Tuy nhiên, nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh có thể gây những biến chứng nguy hiểm, từ bội nhiễm vi khuẩn đến viêm não. Nếu BN bị bội nhiễm da có thể để lại sẹo vĩnh viễn. Biến chứng của thủy đậu có tác hại đến hệ thần kinh trung ương và có thể gây viêm phổi, dẫn đến tử vong. Một biến chứng khác về sau của bệnh thủy đậu là zona, còn gọi là giời leo. Bệnh giời leo thường gây đau nhức nhiều hơn so với bệnh thủy đậu và có thể kéo dài trong nhiều năm.

    * Khi trẻ bị bệnh thủy đậu phải chăm sóc thế nào?

    - Hiện một số phụ huynh còn có hai quan niệm sai khi chăm sóc con bị bệnh thủy đậu: Một, cho là trái rạ càng ra nhiều càng tốt nên thường ủ kín, kiêng nước bằng cách không tắm rửa cho trẻ, để trái rạ mọc nhiều hơn; trong khi thực tế trẻ càng khỏe, có sức đề kháng tốt thì sẽ mọc ít nốt rạ hơn. Hai, lấy gốc rạ ở ruộng về nấu nước uống hoặc tắm cho trẻ vì nghĩ rằng sẽ hết bệnh. Hai cách này không có tác dụng làm bệnh mau hết mà còn gây biến chứng nguy hiểm là nhiễm trùng nốt rạ.

    Cách chăm sóc đúng là phải giữ vệ sinh bằng việc tắm rửa hằng ngày, tránh ủ kín để không bị nhiễm trùng; theo dõi trẻ thường xuyên để phát hiện sớm những dấu hiệu nghi ngờ biến chứng như sốt cao, mụn nước ửng đỏ xung quanh hay có mủ…

    * Khi bị bệnh có cần cách ly? Phòng ngừa bệnh thế nào tốt nhất?

    - Khi trong gia đình, trường học, công sở… có người mắc bệnh, cần cách ly BN 7-10 ngày để tránh lây lan cho cộng đồng xung quanh. Nếu trẻ ở độ tuổi đi học, khi mắc bệnh phải nghỉ học và người lớn phải nghỉ làm 1-2 tuần. Tuy nhiên, việc cách ly BN không bảo đảm ngừa được bệnh cho người khác vì siêu vi có thể lây lan từ trước khi phát mụn nước và sau khi mụn nước đã lành.

    Do đó, biện pháp hiệu quả nhất là chủng ngừa văcxin nhưng việc chủng ngừa phải thực hiện trước khi xảy ra dịch, chứ khi bùng phát bệnh mới đi chích ngừa thì nhiều khi đã mắc bệnh rồi, hoặc văcxin chưa kịp tạo miễn dịch cho cơ thể thì đã mắc bệnh.

    Văcxin ngừa thủy đậu tạo được miễn nhiễm lâu dài gần như suốt đời, tính an toàn cao, ít tác dụng phụ (chỉ khoảng 5% sốt nhẹ sau khi chích).

    * Xin cảm ơn bác sĩ.

  3. 10/07/2011 at 1:36 pm #

    Bệnh lao xương

    Trong hệ xương khớp, cột sống thắt lưng là vị trí tổn thương thường gặp nhất trong bệnh lao xương. Triệu chứng điển hình là đau lưng âm ỉ và tăng dần, đi kèm sốt nhẹ về chiều. Tình trạng này kéo dài làm người bệnh gầy sút và suy nhược.

    Có trường hợp ở bên ngoài thắt lưng phát triển khối u, ấn vào thấy mềm, không đau nhức. Một thời gian khối u vỡ, giải phóng nước vàng và chất bã đậu, tạo vết loét gọi là “áp xe lạnh ngoài cột sống”. Trong đa số trường hợp, cột sống thắt lưng xuất hiện khối u nổi cộm dưới da, hạn chế cử động. Tình trạng này do vi khuẩn tấn công phần trước đốt sống, khiến phần còn lại của đốt sống bị lệch ra ngoài.

    Khi vi khuẩn tấn công vùng khớp háng, người bệnh nổi hạch bẹn, sưng đỏ và đau nhức. Sau một thời gian hạch xuất hiện lỗ rò rỉ, tiết dịch, tạo diều kiện lây lan, truyền bệnh cho người khác qua chung đụng. Tổn thương từ hạch bệnh có thể làm teo cơ mông, cơ đùi. Ngoài ra, các khớp xương vai, cổ tay, cổ chân, khớp cũng dễ bị vi khuẩn tàn phá.

    Biến chứng đáng sợ nhất trong bệnh lao xương khớp là bại liệt tứ chi hoặc hai chi dưới, tùy theo vị trí tổn thương ở cột sống. Nguyên nhân dẫn đến là do vi khuẩn làm cột sống biến dạng, chèn ép tủy sống và rễ thần kinh. Phát hiện biến chứng muộn, việc chạy chữa không đúng chuyên môn là lý do để mầm bệnh phát triển rộng đến các cơ quan, phổi, màng não… gây nguy kịch dẫn đến tử vong.

    Đối tượng bệnh lao xương khớp thường xảy ra ở tuổi 20-40. Yếu tố nhiễm bệnh từ mối quan hệ với người bệnh, nhất là lao phổi. Có tỷ lệ nhỏ nhiễm phải mầm bệnh từ sữa của bò mắc bệnh lao. Nhưng phần lớn lao xương khớp là biến chứng của lao phổi, lao hạch, lao thận, bàng quang… Vi khuẩn từ vị trí tổn thương, theo máu di chuyển đến các khớp xương còn là hậu quả của bệnh lao hạch cổ, còn gọi là bệnh tràng hạt.

    Với tiến bộ của những phương pháp điều trị, bệnh lao xương có thể chữa khỏi hoàn toàn trong 9-12 tháng. Dù vậy, trong thực tế còn một tỷ lệ nhỏ bệnh không chữa khỏi, đưa đến hậu quả đáng tiếc. Việc chữa trị chắp vá, gián đoạn, để vi khuẩn kháng thuốc là nguyên nhân thất bại trong điều trị.

    Trong 2-3 tháng đầu, phác đồ điều trị lao xương gồm:

    - Isoniazit (INH Rimifon 150 mg) với liều 5 mg cho 1 kg thể trọng trong 24 giờ.

    - Rifampicin 300 mg (Rifadin, Rimactan) liều 12 mg/kg/24 giờ.

    - Ethambutol 400 mg (Myambutol, Syntomen…) liều 20 mg/kg/24 giờ.

    - Streptomycin 1 g tiêm bắp thịt 1 g/ngày. Người trên 60 tuổi tiêm ngày 0,75g (2/3 liều).

    Tất cả 3 loại thuốc uống và một loại thuốc tiêm phải sử dụng tập trung cùng lúc. Sau liều trị đầu tiên, bệnh chuyển biến tích cực, phác đồ nối tiếp chỉ cần duy trì Isoniazit và Rifampicin trong suốt thời gian còn lại. Trường hợp khác đã tổn thương, cũng cần có chỉ định cố định khớp. Người bị tổn thương cột sống nên dùng giường bột. Trường hợp vị trí tổn thương ở khớp tay, chân, phải dùng máng bột mới thực sự an toàn. Nếu người bệnh tổn thương cột sống cổ, cũng có độ lệnh cao và có nguy cơ chèn ép tuỷ, rễ thần kinh, cần bó bột trong 3 – 6 tháng.

    Để phát hiện sớm bệnh lao xương khớp, khi có dấu hiệu nghi ngờ, cần nhanh chóng khám và xét nghiệm X quang (phổi, cột sống hoặc vị trí xương khớp tổn thương), soi vi khuẩn (chọc hút từ vị trí tổn thương). Tùy tình trạng cụ thể, có thể tiến hành tìm kết quả Mantoux, tốc độ lắng máu, công thức máu…

    Theo Thế giới Mới

Viết phản hồi