3:18 am - Wednesday October 22, 2014

Bệnh Rubella

RUBELLA

 

ĐỊNH NGHĨA BỆNH RUBELLA: Là một bệnh sốt phát ban lành tính, nhưng khi xảy ra ở phụ nữ có thai có thể dẫn đến viêm nhiễm nặng kéo dài ở thai nhi và gây dị dạng (*)

 

TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Năm 1962, virus gây bệnh Rubella được phân lập từ nuôi cấy tế bào trong dịch mũi họng của người bệnh do công của 2 khoa học gia Parkman và Weller.
Virion Rubella có đường kính từ 60 – 70 nm, là một virus ARN có hình cầu và được phân loại thuộc họ Togaviridae, thuộc giống Rubivirus
Rubella không vững bền và bị bất hoạt bởi những dung môi có chứa lipid, trypsin, formalin, tia cực tím, pH thấp, nhiệt độ…

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH RUBELLA
- Tính lây lan của Rubella không mãnh liệt bằng SỞI
- Khả năng nhạy cảm đối với người trưởng thành từ 6 – 11 % (*)
- Tại Mỹ, trong 900 trường hợp được thông báo năm 1990, xấp xỉ 57% các trường hợp xảy ra ở người lớn hơn 15 tuổi. 20 / 900 trường hợp là Hội chứng Rubella bẩm sinh.(*)

SỰ LƯU HÀNH CỦA BỆNH RUBELLA
Bệnh lưu hành trên toàn thế giới, thường mang tính chất địa phương:
- 10 – 15 năm lại có thể xảy ra dịch
- Thường xuất hiện trong mùa đông – xuân
- Những vụ dịch lớn xảy ra tại Mỹ vào các năm 1935, 1943, 1964 và ở Uùc (1969). Tại Mỹ, trước khi có vaccin, chu kỳ dịch là 6 – 9 năm.
- Bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi trưởng thành, nhưng trong vùng dân cư chưa gây được miễn dịch Rubella thì trẻ nhỏ là đối tượng cảm nhiễm quan trọng nhất.

VỤ DỊCH RUBELLA TẠI MỸ, 1964 – 1965(*)
- 12.5 triệu trường hợp Rubella được ghi nhận
- 2000 trường hợp biến chứng viêm não
- 11.250 trường hợp sẩy thai
- 2.100 trường hợp chết sau sinh
- 20.000 trường hợp Hội chứng Rubella bẩm sinh
- Chết : 11.600
- Mù : 3.580
- Chậm phát triển tâm thần: 1800

Ổ CHỨA: Ổ chứa virus gây bệnh Rubella duy nhất là người và người đang mắc bệnh là nguồn truyền nhiễm duy nhất.

CÁCH LÂY TRUYỀN
- Bị mắc bệnh do lây nhiễm bởi giọt virus qua đường mũi họng
- Trẻ mắc CRS sẽ đào thải nhiều virus trong dịch tiết hầu họng, trong nước tiểu và đó là nguồn truyền nhiễm cho người tiếp xúc
- Trong điều kiện sống khép kín, như trại lính, thì tất cả những người cảm nhiễm đều có thể bị nhiễm virus rubella.

TÍNH CẢM NHIỄM VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG
- Mọi người đều là đối tượng cảm nhiễm
- Trẽ sơ sinh có kháng thể của mẹ thường được bảo vệ khoảng 6 – 9 tháng tuỳ thuộc nồng độ kháng thể mẹ truyền qua nhau thai.
- Miễn dịch của cơ thể chống lại bệnh Rubella có thể hình thành bằng 2 cách:
+ Đáp ứng miễn dịch sau khi mắc bệnh
+ Đáp ứng miễn dịch sau khi chủng ngừa

THỜI KỲ Ủ BỆNH:16 – 18 ngày, có thể dao động từ 14 – 23 ngày, thường là 10 ngày kể từ khi tiếp xúc đến lúc sốt.

THỜI KỲ LÂY BỆNH
- Khoảng 1 tuần trước và ít nhất 4 ngày sau khi phát ban.
- Tính lây truyền cao tuy không bằng Sởi
- Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có thể đào thải virus trong nhiều tháng sau khi đẻ.

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
- Tiền triệu ( Trước khi phát ban 1 – 7 ngày ):
+ Mệt mỏi, đau đầu, sốt, viêm kết mạc nhẹ và sưng hạch
+ Triệu chứng về hô hấp rất nhẹ hoặc không có
+ Ở trẻ em, phát ban có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh
- Nổi ban
+ Ban bắt đầu mọc ở trán , mặt và lan xuống lưng và các chi.
+ Ban dạng dát sẩn nhỏ, màu sáng hơn so với ban sởi nhưng có thể kết hợp thành quầng đỏ, rộng.
+ Ban tồn tại từ 1 – 5 ngày, nhưng hay gặp nhất là 3 ngày ( Sởi 3 ngày )
- Sưng và đau các khớp cổ tay, khớp gối, ngón tay không phải lúc nào cũng xảy ra, nếu có thì biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn phát ban và kéo dài từ 1 – 14 ngày sau khi các biểu hiện khác của Rubella mất đi. Một năm sau có thể tái phát lại.
- Đau tinh hoàn ở người trẻ tuổi đôi khi được thông báo

CHẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM
- ELISA (tìm kháng thể chuyên biệt), nhạy cảm nhất và dễ thực hiện
- HI (Hemagglutination inhibition), ức chế ngưng kết hồng cầu
- IHA (Indirect Hemagglutination) , ngưng kết hồng cầu thụ động
- LA (Latex Agglutination ), ngưng kết Latex
- IgM đặc hiệu
- Phân lập siêu vi gây bệnh , hỗ trợ nghiên cứu
- Bệnh Rubella , đặc biệt ở thai phụ , có thể được xác định bằng hiệu giá kháng thể tăng lên 4 lần giữa thời kỳ cấp tính và thời kỳ khỏi bệnh bằng kỹ thuật miễn dịch enzym ( ELISA).
+ Huyết thanh 1 được lấy càng sớm càng tốt, trong khoảng 7 – 10 ngày sau khi bắt đầu mắc bệnh và huyết thanh 2 được lấy tối thiểu 7 – 14 ngày (tốt nhất là 2 – 3 tuần) sau đó.
- Virus gây bệnh Rubella có thể phân lập từ họng bệnh nhân trong 1 tuần trước đến 2 tuần sau khi phát ban. Các mẫu máu, nước tiểu hoặc phân có thể dùng để xét nghiệm virus (kết quả tu 10 – 14 ngày).
- Chẩn đoán xác định CRS có thể dựa vào:
+ Sự phát hiện kháng thể IgM đặc hiệu ở trẻ sơ sinh
+ Hoặc, sự tồn tại của hiệu giá kháng thể Rubella đặc hiệu IgG từ mẹ truyền sang con
- Hoặc,phân lập được virus từ họng, nước tiểu kéo dài trong 1 năm

Ở NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM, BỆNH RUBELLA THƯỜNG DIỄN BIẾN NHẸ VÀ ÍT BIẾN CHỨNG :
- VIÊM KHỚP (vị trí thường gặp là ngón tay, cổ tay, đầu gối):
+ Trẻ nhỏ : hiếm gặp
+ Người lớn : > 70 % các trường hợp
- Viêm não : 1/ 6000 trường hợp, người lớn thơờng gặp hơn là trẻ nhỏ( đặc biệt là phái nữ ), tỷ lệ tử vong ước tính < 50 %
- Xuất huyết : 1/ 3000 trường hợp, thường xảy ra ở trẻ nhỏ hơn người lớn
- Rất Nguy Hiểm Nếu Phụ Nữ Có Thai Mắc Bệnh Vì Sẽ Vĩ Khả Năng Gây Ra Crs Là Rất Cao

HỘI CHỨNG RUBELLA BẨM SINH (CRS)
- 90% CRS từ người mẹ mắc bệnh rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ
- 10 – 20% CRS từ người mẹ mắc bệnh rubella vào tuần thứ 16 của thai kỳ
- Hiếm có CRS từ người mẹ mắc bệnh rubella vào tuần thứ 20 của thai kỳ

SỰ XUẤT HIỆN CỦA CRS QUA CÁC VỤ DỊCH RUBELLA
- 1969, Singapore, 2.2 CRS/1000 trẻ đẻ sống
- 1972, Israel, 1.7 CRS/1000 trẻ đẻ sống
- 1980s, Panama, 2.2 CRS/1000 trẻ đẻ sống
- 1982 – 1983, Trinidad và Tobago, 0.6 CRS/1000 trẻ đẻ sống
- 1990s, Srilanka, 0.9 CRS/1000 trẻ đẻ sống

HỘI CHỨNG RUBELLA BẨM SINH (CRS) – NHỮNG BẤT THƯỜNG TRÊN THAI NHI DO RUBEL A
NHỮNG DỊ TẬT BẨM SINH THƯỜNG GẶP CỦA CRS, CÓ THỂ ĐƠN THUẦN HOẶC KẾT HỢP:

- Điếc
- Đục thuỷ tinh thể
- Tật mắt nhỏ
- Tăng nhãn áp bẩm sinh
- Tật đầu nhỏ
- Viêm não -màng não
- Thông ống động mạch ( ống BOTAL)
- Thông vách ngăn giữa các buồng tim
- Gan to – Lách to
- Bệnh mềm xương
- Tiểu đường do Insulin
- Chậm phát triển tâm thần

NGHI NGỜ CRS

Trẻ 0 – 11 tháng có biểu hiện về tim mạch, đục thuỷ tinh thể hay điếc Hoặc Mẹ của bé nghi ngờ hoặc là xác định mắc Rubella trong lúc có thai

ĐIỀU TRỊ
- Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu
- Nghỉ ngơi
- Uống nhiều nước và chất dinh dưỡng
- Hạ nhiệt (nếu cần)
- Giảm đau (Nếu cần)
- Điều trị triệu chứng nếu cần thiết nhưng phải tuân theo sự hướng dẫn của Y, bác sĩ

BS. VŨ QUỐC ÁI – BỘ PHẬN GIÁM SÁT 24 BỆNH TRUYỀN NHIỄM – Y TẾ CÔNG CỘNG – VIỆN PASTEUR TP.HCM

Viện Pasteur Tp. Hồ Chí Minh

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

4 Responses to “Bệnh Rubella”

  1. Phanthanh
    18/08/2011 at 9:46 pm #

    Anh rể mình bị nấc cục 3 ngày liền. Người mệt mỏi kinh khủng, dùng đủ các mẹo để chữa nhưng ko đc. Nhìn anh thảm thương quá nên chị gái mình đành phải ra nhà thuốc Mai Hương ở Nghĩa Tân hỏi thì cô chủ bảo có thuốc nhưng hết mất rùi nhưng cố ấy cho số điện thoại của nhân viên công ty để hỏi xem quanh đó có nhà nào còn sản phẩm đo không. Chị mình gọi điện hỏi và được chỉ đến 1 nhà thuốc để mua. Chị ấy mua luôn một hộp 20 gói,lấy 1 gói pha nước uống thì 15 phút sau thấy hết nấc liền. Các bạn tham khảo xem nhé. Đảm bảo thật 100%. Tên thuốc là Dehiccough, công ty Dược phẩm Hoa Sen sản xuất nhé

    • 19/08/2011 at 3:43 pm #

      Cảm ơn bạn đã góp ý. Mong bạn có nhiều thông tin bổ ích hơn để mọi người cùng tham khảo. Chúc bạn sống khỏe..
      Admin

  2. 19/08/2011 at 3:48 pm #

    Điều trị nấc bằng thuốc gì? In Email

    Nấc không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể đem lại khá nhiều phiền toái cho người bệnh. Nấc sau mổ có thể gây đau đớn, làm rạn vết mổ và giảm sút thể lực của người bệnh. Những trường hợp nấc kéo dài thường làm cho người bệnh bị mệt mỏi, mất ngủ, mất nước và kiềm hô hấp do tăng thông khí.

    Có khoảng gần 100 nguyên nhân khác nhau gây ra nấc, thường gặp nhất là do các bệnh lý ở đường tiêu hóa gây kích thích các đầu dây thần kinh phế vị và thần kinh hoành (như bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản, viêm loét dạ dày, viêm thực quản, viêm túi mật, viêm tụy, dạ dày chướng hơi…). Các rối loạn chuyển hóa do thuốc và độc chất (như tăng urê máu, ngộ độc rượu, sau dùng một số thuốc) cũng là nhóm nguyên nhân thường gặp. Rất nhiều loại thuốc có khả năng gây nấc, gặp nhiều nhất là nhóm corticosteriod (prednisolon…), benzodiazepin (diazepam…), thuốc điều trị Parkinson, các hóa chất chống ung thư, kháng sinh (như nhóm macrolid, fluoroquinolon), thuốc trợ tim (digoxin) và một số dẫn xuất thuốc phiện (như hydrocodon), cần lưu ý là các thuốc chữa nấc cũng có thể gây nấc. Các nguyên nhân gây nấc khác có thể gặp là do tổn thương thần kinh trung ương (chấn thương sọ não, viêm não…), yếu tố tâm lý (lo lắng, sang chấn tâm lý…), sau phẫu thuật bụng, nhồi máu cơ tim…, một số trường hợp nấc không xác định được căn nguyên.

    Điều trị nấc: điều trị nguyên nhân là biện pháp quan trọng nhất, trước tiên cần xác định tất cả các tác nhân gây nấc hoặc làm nặng tình trạng nấc để loại bỏ hoặc sửa chữa nếu có thể. Trong những trường hợp không xác định được hoặc không thể điều trị được nguyên nhân, có thể cân nhắc sử dụng các phương pháp điều trị triệu chứng. Nói chung, các trường hợp nấc cấp tính thường tự khỏi, chỉ những trường hợp nấc nặng và kéo dài mới đòi hỏi các biện pháp điều trị.

    Điều trị bằng thuốc: Rất nhiều loại thuốc có thể giúp giảm triệu chứng nấc theo những cơ chế khác nhau. Baclofen, một chất có cấu trúc giống GABA có tác dụng hoạt hóa một chất dẫn truyền thần kinh ức chế, từ đó ngăn chặn được các kích thích nấc. Đây là một trong những thuốc hiệu quả nhất trong điều trị các trường hợp nấc mạn tính do nhiều nguyên nhân khác nhau như các bệnh lý ở dạ dày – thực quản, tổn thương thân não hoặc nấc vô căn, kể cả những trường hợp không đáp ứng với nhiều loại thuốc khác. Thuốc có thể gây ngầy ngật, buồn ngủ, mất ngủ, yếu cơ, lú lẫn… Các loại thuốc liệt thần như chlorpromazin, promethazin, prochloperazin và haloperidol đều có tác dụng giảm nấc thông qua việc ức chế cạnh tranh với dopamin ở vùng dưới đồi. Tác dụng phụ thường gặp nhất của các thuốc này là gây ngầy ngật, buồn ngủ, khô miệng và dấu hiệu ngoại tháp… Do nhiều tác dụng phụ nên hiện nay nhóm thuốc này ít được sử dụng trong điều trị giảm nấc. Metoclopramid, một thuốc thường dùng để chống nôn cũng có tác dụng giảm nấc thông qua việc làm giảm cường độ co bóp của thực quản. Các thuốc ức chế bơm proton (như omeprazol) có thể giảm triệu chứng nấc thông qua việc giảm tiết dịch vị và giảm tình trạng đầy chướng hơi của dạ dày. Nifedipin, thuốc thuộc nhóm chẹn kênh canxi thường dùng với mục đích hạ huyết áp cũng có thể giúp giảm nấc thông qua việc đảo ngược quá trình khử cực bất thường trong cung phản xạ nấc. Trong khi đó, sertraline tác dụng chống nấc thông qua các receptor 5HT4 ở ống tiêu hóa, gây giảm các nhu động bất thường ở thực quản, dạ dày và cơ hoành hoặc qua các receptor 5HT1A và 5HT2 gây ức chế cung phản xạ nấc. Nhiều loại thuốc khác cũng có tác dụng hỗ trợ trong việc giảm nấc ở một số trường hợp như nefopam, lidocain tiêm tĩnh mạch, amitriptylin, amantadin, acid valproic, gabapentin, clonazepam, cisapride, một số thuốc gây mê và chống co giật (như phenytoin). Trong những trường hợp nấc dai dẳng không đáp ứng với một loại thuốc, việc phối hợp đồng thời nhiều thuốc là cần thiết. Phác đồ phối hợp thường được sử dụng và đã chứng minh được hiệu quả là cisaprid + omeprazol + baclofen, có thể dùng thêm gabapentin.

    Điều trị không dùng thuốc:

    Một số nghiệm pháp mang tính cơ học có thể được thử nghiệm trước khi quyết định dùng thuốc như hít sâu và nín thở, kích thích vào vùng hầu họng, ngoáy mũi gây hắt hơi, ép mạnh vào vùng cơ hoành bằng tay, xoa bóp vùng hậu môn, uống nước thật chậm và bịt mũi trong khi nuốt, uống một cốc nước lạnh và bịt tai trong khi uống, uống một cốc nước ấm có pha một thìa mật ong, nuốt một cục nước đá, nuốt nhanh một thìa đường hoặc mật ong, uống một cốc nước chanh vắt (không đường) hoặc ăn một lát chanh cắt… Riêng ở trẻ nhỏ có thể điều trị nấc bằng cách gây động tác mút ở trẻ (cho trẻ bú mẹ, bú bình hoặc núm vú giả…). Một số phương pháp phức tạp hơn có thể được thử nghiệm như châm cứu, gây tê ngoài màng cứng ở cột sống cổ, phong bế thần kinh hoành… Các biện pháp mang tính tâm lý như đếm lùi từ 100 hoặc tập trung vào một vấn đề phức tạp… cũng có thể giúp giảm nấc trong một số trường hợp. Phẫu thuật cắt dây thần kinh hoành là biện pháp cuối cùng, chỉ dùng trong những trường hợp nấc nặng, dai dẳng và không đáp ứng với các biện pháp điều trị khác vì có nguy cơ gây suy hô hấp.

    BS. Nguyễn Ý Nhi

    Theo SK&ĐS

  3. 19/08/2011 at 3:49 pm #

    Cách trị nấc

    Nấc là hiện tượng co thắt cơ hoành làm co đột ngột bụng và ngực. Bệnh có thể được chữa bằng nước gừng, cháo hạt tía tô, cháo nho… hoặc đơn giản bằng cách uống từng ngụm nước nhỏ hoặc nuốt nước bọt liên tục.

    Nguyên nhân gây nấc tạm thời là do rối loạn trong hoạt động của cơ hoành. Còn nguyên nhân gây nấc kéo dài thường do các bệnh như thoát vị cơ hoành, viêm miệng nối thực quản, áp xe dưới hoành, hoặc các bệnh phổi, bệnh tim, thiếu máu cục bộ, tăng ure huyết… Theo Đông y, nấc là do khí uất gây bất hòa trong nội tạng, làm ảnh hưởng tới cơ chế khí, sự điều hòa tân dịch không thuận, không đủ dinh dưỡng, phát sinh đờm đục, can khí lấn át vị khí.

    Một số bệnh lý như táo bón lâu ngày, tiểu tiện không thông, cơ thể hư nhược… cũng gây nấc. Nấc còn xuất hiện khi ăn uống không điều độ, đồ ăn nóng lạnh lẫn lộn, thường xuyên uống nước lạnh, hoặc để dạ dày gặp lạnh, mất khả năng điều tiết, khiến khí đi ngược lên cơ hoành.

    Người ta chia nấc làm 3 loại:

    - Nấc do nhiễm lạnh: thường xuất hiện vào buổi sáng, tiếng nấc nhẹ. Buổi tối, tiếng nấc nặng hơn và liên tục, thời gian nghỉ giữa 2 tiếng nấc ngắn, chân tay lạnh.

    - Nấc do nhiệt thịnh: tiếng nấc to, mạnh, thời gian giữa 2 tiếng không cố định, lúc ngắn lúc dài, miệng lưỡi khô, đi ngoài khó…

    - Nấc do cơ thể suy hư, ốm yếu: tiếng nấc yếu nhẹ, không liên tục, thời gian nghỉ giữa 2 tiếng dài, người mệt mỏi, chán ăn, ngủ kém…

    Một số món ăn bài – thuốc trị nấc:

    1. Nước gừng: gừng tươi 2 lát mỏng, giã nhỏ, đun với 200ml nước nhỏ lửa, để nguội, lọc nước bỏ bã. Đường trắng 1 thìa cà phê cho vào quấy đều. Bệnh nhân vừa uống vừa đếm đến 9, dùng 1-2 lần/ngày.

    2. Nước vải: vải chín 10 quả, bóc cùi, cho vào cốc với 1 thìa cà phê mật ong, hấp cách thủy. Khi cùi vải chín thì ép lấy nước. Bệnh nhân ăn cùi vải trước sau đó uống nước 2 lần/ngày.

    3. Nước quất hồng bì: quất hồng bì chín 20 quả, rửa sạch, bỏ hạt cho vào cốc dầm nát, thêm 1 thìa canh đường, trộn đều, hấp cách thủy. Khi quất hồng bì chín, ép lấy nước uống.

    4. Cháo hạt tía tô: hạt tía tô 20 g, xay thành bột mịn, thêm hạt tiêu 4 hạt, đun với 250 ml nước, chắt nước bỏ bã. Bột gạo 100 g cho vào nước hạt tía tô, đun nhỏ lửa. Khi cháo chín cho 20 g đường phèn, quấy tan. Bệnh nhân ăn một lần lúc đói, trong 2-3 ngày.

    5. Cháo nho: Nho chín 100 g, gạo 100 g, sữa bò tươi 50 ml, mật ong 1 thìa. Gạo xay thành bột, nho quả rửa sạch, giã dập đun với 200 ml nước, chắt nước bỏ bã. Cho bột gạo, sữa bò tươi, mật ong vào nước nho, quấy đều, đun nhỏ lửa cho đến khi cháo chín. Bệnh nhân ăn một lần/ngày lúc đói, dùng trong 2 ngày.

    Cách trị nấc không dùng thuốc:

    - Khi nấc, uống liên tục từng ngụm nước nhỏ, nước có ga, hoặc nuốt nước bọt liên tục…

    - Dùng ngón trỏ và ngón cái bóp kín 2 cánh mũi, đồng thời khép kín miệng môi, phồng má rồi dồn khí lên hai tai, mỗi lần làm như vậy trong 2-3 giây, rồi nghỉ 2-3 giây và lặp lại khoảng 15 -20 lần.

    - Bệnh nhân nhắm hờ mắt, dùng hai ngón tay trỏ ấn nhẹ và sâu vào hai nhãn cầu trong 1-2 giây, rồi nhấc hờ hai ngón tay trỏ, làm liên tục trong 15-20 lần.

    Bác sĩ Minh Nguyệt, Khoa Học & Đời Sống

Viết phản hồi