Bệnh liệt dương

Có 14,813 lượt xem

BỆNH LIỆT DƯƠNG


{tab=Bệnh lý}

Liệt dương (tiếng Anh:Erectile dysfunction) hay rối loạn cương dương là một rối loạn chức năng tình dục ở nam giới có biểu hiện dương vật không đủ hay không giữ được độ cứng làm mất khả năng đi vào âm đạo khi giao hợp. Ngoài ra, định nghĩa của liệt dương còn thêm hiện tượng dương vật bị mềm sớm, trước khi xuất tinh; thiếu cảm hứng tình dục; không xuất tinh; xuất tinh sớm; thiếu hay mất cực khoái. Hay nói cách khác độ cương cứng của dương vật không đủ để tiến hành cuộc giao hợp một cách trọn vẹn[1].

Tuy rối loạn cương dương (RLCD) là một chứng rất phổ biến nhưng vì là vấn đề nhạy cảm người nam, nên ít được nêu lên hay bàn thảo. Khoảng 5% người nam trên 40 và 15-25% trên 65 có triệu chứng RLCD

Sinh lý

Đầu dương vật là nơi dấy động các tín hiệu thần kinh tình dục, khởi sự một chuỗi liên hệ thần kinh đưa đến sự cương cứng của dương vật. Khi được cọ xát, các bộ phận đầu dây thần kinh trong đầu dương vật phát tín hiệu theo dây thần kinh pudendal vào xương cùng của xương sống, chuyền theo tủy sống lên trung tâm tình dục tại não. Cọ sát tại những cơ quan liên hệ như hậu môn, da bọc dái, cũng có thể gây thêm tín hiệu thần kinh tình dục. Nhiều cơ quan khác cũng có thể gây xúc cảm tình dục, như tuyến tiền liệt, bàng quang, niệu đạo, ngay cả ruột, ống dẫn tinh, v.v… . Khi những cơ quan này bị trương phình hay nhột có thể tạo kích thích tình dục. Do đó nhiều trường hợp bệnh tình dục làm viêm các cơ quan này sẽ làm bệnh nhân tuy đau đớn nhưng lại … thèm làm tình hơn bình thường (!). Một số thuốc “gợi tình” (aphrodisiac) như cantharide tạo tác dụng bằng cách làm căng trướng của nội mạc niệu đạo và bàng quang.

Yếu tố tinh thần tâm lý có ảnh hưởng rất mạnh trong việc nâng cao độ kích thích tình dục. Nghĩ, tưởng tượng hoặc nằm mơ đến giao hoan tình dục có thể làm cương cứng dương vật – và có thể làm xuất tinh. Ở tuổi dậy thì, nhiều người nam hay nằm mơ thấy mình đang làm tình và xuất tinh trước khi tỉnh dậy. Khi quá mệt hay buồn phiền, con người sẽ bớt thích giao hợp. Một trong những biểu hiện của bệnh trầm cảm là chứng liệt dương.

Tuy các yếu tố tinh thần tâm lý trên cần có não để tác động sinh lý tình dục, não có lẽ không có nhiều ảnh hưởng bằng tủy sống. Nhiều trường hợp ở động vật (và một số ở người) cho thấy dương vật vẫn có khả năng xuất tinh mặc dầu cột sống bị cắt ngang phần lưng. Do đó, sự cương cứng và xuất tinh là có thể do một số phản xạ trong tủy sống – cộng thêm yếu tố tinh thần tâm lý từ não. [3]

Cương cứng là do tín hiệu từ hệ thần kinh đối giao cảm (para-sympathetic system) trong tủy sống theo dây thần kinh chậu đến dương vật. Khác với những dây thần kinh đối giao cảm ở các nơi khác trong cơ thể, dây thần kinh dương vật tiết chất nitric oxide thay vì chất acetylcholine. Nitric oxide làm giãn nở động mạch và các hệ thống chứa máu trong dương vật. Các hệ thống này gồm 3 thể hình ống dài dọc theo dương vật, hai thể trên gọi là thể hang (corpus caevrnosum – có nhiều hốc hang nhỏ đựng máu), thể dưới gọi là thể xốp (corpus spongiosum – có ống dẫn tiểu bên trong). Khi chưa cương cứng, máu theo động mạch vào các thể này rồi theo tĩnh mạch trở về cơ thể. Khi có xúc cảm từ dây thần kinh dương vật, máu tuôn vào nhanh làm căng các xoang ổ trong các thể chứa máu, căng mạnh đến độ làm bẹp các ống tĩnh mạch, làm nghẽn đường về của máu

Trong những giai đoạn đầu khi cương cứng một số tuyến trong phần trên niệu đạo có tiết ra chất nhờn để làm bớt sự cọ xát dương vật trong giao hợp. Tuy nhiên, trong giao hợp nam nữ, chất nhờn từ người nữ nhiều hơn và hữu hiệu hơn người nam. Nếu không đủ chất nhờn làm giảm cọ xát, giao hợp sẽ tạo đau đớn làm giảm khoái lạc.

Xuất tinh xảy ra khi xúc cảm tính dục lên đến cực độ. Khi đã bắt đầu tới giai đoạn xuất tinh, con người không còn “làm chủ tình hình” được nữa vì đây là một phản xạ theo hệ thần kinh giao cảm (sympathetic system) trong tủy sống Tín hiệu theo dây thần kinh từ đốt xương sống L1-L2 theo dây hạ vị (hypogastric nerve) và đám thần kinh nhàu của hệ giao cảm trong chậu (pelvic sympathetic plexuses) ra các cơ quan sinh dục. Tác động này đưa đến sự co thắt của hai ống dẫn tinh và hai túi “tồn kho” trên hai ống này đẩy tinh trùng vào phần trên của niệu đạo. Sau đó các cơ trong vỏ tuyến tiền liệt co thắt, đẩy dung dịch trong tuyến này vào niệu đạo, pha trộn với tinh trùng và các chất nhờn (xem đoạn trên) – tạo thành tinh dịch.

Khi phần trên niệu đạo bị trương phình bởi tinh dịch sẽ tạo phản xạ theo dây thần kinh thẹn trong (pudendal) vào tủy sống tạo nên cảm giác “căng cứng” của toàn bộ các bộ phận sinh dục. Sau đó là một loạt các rung động co giật nhịp nhàng của nhiều bắp thịt và cơ trong phần dưới chậu làm hẹp phần trong của dương vật. Sự co giật có nhịp điệu này tạo một loạt “sóng” đẩy tinh dịch ra ngoài theo nhiều đợt cho đến khi cạn tinh dịch bên trong niệu đạo (khoảng 2-10 mililit). Cả thời đoạn xuất tinh là tình trạng cực khoái tình dục ở nam – kéo dài khoảng 1 hay 2 phút.

Một hay 2 phút sau khi xuất tinh, tất cả những cảm hứng tình dục đều tan biến, dương vật mềm lại và không thể cương cứng được – giai đoạn nghỉ này (resolution hay refractory period) dài khoảng 15-30 phút – để các hệ thần kinh “chỉnh đốn hàng ngũ” (nghĩa là tạo thăng bằng điều hòa các chất sinh hóa, hormone, v.v… trong cơ thể). Sau đó, mới có khả năng giao hợp trở lại.

Nguyên nhân

Cách nay 20 năm, các nhà chuyên khoa tâm thần cho rằng liệt dương (LD) 90% là do tâm lý. Thập niên sau, các chuyên khoa thận-tiểu lại cho rằng LD 90% là do bệnh tật cơ thể. Sau nữa thì y học cho rằng phải chia LD theo loại yếu tố nguyên nhân: A – tâm thần và B – cơ thể.

Hiện nay, khoa học cho thấy nguyên nhân của LD có cả hai yếu tố – tâm thần và cơ thể – có thể ảnh hưởng riêng biệt, cũng có thể cùng lúc. Tromg một cuộc nghiên cứu [5] gồm 63 người nam bị LD, 10 người có lý do hoàn toàn tâm lý; 3 người có lý do hoàn toàn vì bệnh cơ thể; 50 người còn lại có ít nhiều cả hai yếu tố. Hơn nữa, gần một phần ba (19/63) có yếu tố bệnh cơ thể nhưng lại có yếu tố tâm lý nhiều hơn. Những người này nếu chia loại như trên có lẽ sẽ bị liệt vào loại B – bệnh cơ thể, mặc dù chữa theo bệnh cơ thể có lẽ không hoàn hảo bằng khi chữa họ theo phương pháp tâm lý. Nghiên cứu này cho thấy, khi y sĩ xét nghiệm bệnh nhân bị LD và tìm ra một bệnh cơ thể nào đó trong cơ thể, đừng vội cho rằng đấy chính là nguyên nhân duy nhất của LD – nhiều khi căn bệnh ấy chỉ là ngẫu nhiên, có ít hoặc không có ảnh hưởng gì đến bệnh LD.

Một cách nhận xét về nguyên nhân của LD là: Khi người nam có một chứng bệnh cơ thể nào đó, nó có thể làm chứng liệt dương nặng thêm vì đưa đến những lo phiền và những phản xạ tình dục bất thường, và tăng sự lo lắng về khả năng tình dục của mình – tạo vòng lần quẩn

Chẩn đoán

Nam bệnh nhân thường rất mặc cảm về vấn đề liệt dương nên thường tránh khai bệnh với y bác sĩ. Khi một nam bệnh nhân tới khám bệnh nhiều lần nhưng chỉ khai những triệu chứng qua loa không rõ ràng hay tỏ vẻ ấp úng, ngượng ngùng, y sĩ nên tra vấn trực tiếp về vấn đề sinh lý:

1. Có bị liệt dương không? Liệt dương xảy ra từ khi nào? Có bao giờ cương cứng thực sự không? Có cương cứng (dù không có cảm hứng) vào lúc thức dậy trong buổi sáng không? LD luôn luôn xảy ra hay là khi có khi không?

2. Những yếu tố xã hội:

* công ăn việc làm: mệt mỏi, khó chịu, lo lắng

* không khí hoàn cảnh không thích hợp: có con nhỏ, ồn ào, chia chung phòng với ngưới khác, đau buồn

* liên hệ sinh lý: ngoại tình, thiếu tình yêu

3. Những yếu tố bệnh lý: trầm cảm, đái tháo đường, bệnh giáp trạng, sử dụng hóa chất có tác hại đến tinh thần, thần kinh (thí dụ: rượu, thuốc chống trầm cảm, thuốc hạ huyết áp, ma tuý, cần sa và các loại thuốc cấm v.v….)

4. Những dấu hiệu lâm sàng:

* Tinh hoàn nhỏ hơn bình thường (thí dụ: hiện tượng thiếu hormone)

* Dương vật không bình thường (thí dụ: bệnh Peyronie)

5. Xét nghiệm máu:

* Hormones: testosterone, thyroxine

* Thử thận, gan, chất đường, sắt (đa số những xét nghiệm này thường sẽ cho kết quả bình thường)

Rối loạn cương dương thường đi kèm với các bệnh lý sau[1]:

* 68% bệnh nhân bị cao huyết áp có rối loạn cương dương ở những mức độ khác nhau,

* 60% bệnh nhân rối loạn cương dương đang bị rối loạn lipid máu.

* 50% bệnh nhân rối loạn cương dương có vấn đề về tim mạch, trong đó 40% bị bệnh mạch vành

* 27-59% bệnh nhân tiểu đường bị rối loạn cương dương (nghiên cứu của Massachusetts Male Aging Study)

* Tỷ lệ bệnh nhân suy thận bị rối loạn cương dương lên đến 40%, chủ yếu ở người chạy thận nhân tạo hơn là ghép thận. 75% bệnh nhân ghép thận có khả năng cải thiện cương dương

* 10%- 63% người nghiện rượu bị rối loạn cương dương con số thống kê chính xác tùy nghiên cứu. Rượu làm giảm testosterone (hóc môn nam) và tăng estrogen (hóc môn nữ) đồng thời tác động tiêu cực lên hệ thần kinh.

* Hút thuốc lá: Đàn ông hút thuốc lá rủi ro bị rối loạn cương dương nhiều hơn đàn ông không hút thuốc tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho thấy thuốc lá không có những ảnh hưởng rõ rệt lên căn bệnh này (theo nghiên cứu đó thì tỷ lệ rối loạn cương dương ở người hút thuốc là khoảng 11% so với 9,5% ở nhóm người không hút)

{tab=Điều trị}

Đông y trị bệnh liệt dương

Dương nuy còn gọi là bệnh liệt dương , ngày nay thường được gọi là trở ngại chức năng cương cứng hay rối loạn cương, chỉ việc đàn ông không thể đạt được hoặc không thể duy trì sự cương cứng dương vật để tiến hành giao hợp.

Theo quan niệm của y học cổ truyền, liệt dương là do thận hư vì cho rằng “thần tàng tinh”, “thận chủ sinh sản”. Chức năng thận bình thường quyết định sự phát huy bình thường của chức năng sinh lý nam giới và chức năng bình thường của thận lại phụ thuộc vào sự nhịp nhàng, cân đối của các tạng phủ khác. Y văn cổ đã chỉ rõ: “Giữ thân câu sinh nhi thiên thân tử” (có cùng lúc với cơ thể, song lại suy thoái, trước cơ thể) và  sự suy thoái là do “kỳ sự thâm đa, nghi vô khoan lễ (sử dụng rất nhiều nhưng không biết chăm sóc) và do thái quá     “thốt nhi bạo dục, bất đãi kỳ tráng, bất nhẫn kỳ nhiệt, thi cố cực thương” (đã hết sức mà lại còn làm mạnh, không đợi nó khỏe lên, không chờ nó nóng vì thế mà mau chóng thương tổn).

Căn cứ vào nguyên nhân gây ra liệt dương mà phân ra làm 2 loại biến hóa bệnh lý mang tính chất khí chất và phi khí chất, nhưng trên thực tế nhiều trường hợp mang tính chất hỗn hợp, có cả 2 nguyên nhân là khí chất và phi khí chất.

Bệnh liệt dương mang tính khí chất phải kể đến các nguyên nhân sau:

– Nguyên nhân mạch máu: Trở ngại dẫn lưu tĩnh mạch, động mạch cung cấp máu không đủ, dò động mạch và tĩnh mạch.

– Nguyên nhân về thần kinh: Tổn thương cột sống, u cột sống, tổn thương đĩa đệm, tổn thương xương chậu.

– Rối loạn nội tiết: Bệnh tiểu đường, biến hóa bệnh lý vùng dưới đồi – tuyến yên, suy chức năng tuyến sinh dục nguyên phát, hội chứng Addsion, tăng năng tuyến giáp, giảm năng tuyến giáp, suy chức năng tuyến thượng thận.

– Do sử dụng thuốc: Thuốc chống giao cảm trung khu thần kinh (Captopril), thuốc ức chế thần kinh (Impramin, doxepin, metapramion), thuốc trầm uất (haloperidol, diazephan).

– Các bệnh tật mang tính khí chất khác: Viêm tiền liệt tuyến, hẹp bao quy đầu, sưng bìu dái.

Biện pháp trị bệnh

Để điều trị bệnh liệt dương phải giải quyết hài hòa giữa các yếu tố khí chất và phi khí chất kết hợp với thể dục, dưỡng sinh, môi trường… Các chuyên gia y học hiện đại và y học cổ truyền đều thống nhất 10 cách dưới đây để khắc phục liệt dương ở nam giới.

1. Tiết chế tình dục: Tuỳ theo tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh sống… phải đảm bảo sinh hoạt tình dục phù hợp, không thái quá, không bất cập.

2. Điều hòa trạng thái tâm lý, sống vui vẻ, lạc quan, tránh buồn bực, lo nghĩ.

3. Giữ tâm trí ổn định: Sống thuỷ chung, tránh tâm lý “đứng núi này trông núi nọ”.

4. Thực hiện chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý.

5. Tránh thủ dâm.

6. Từ bỏ những đam mê có hại, ngoại tình, cờ bạc, rượu chè, ma túy.

7. Phải phòng bệnh và điều trị bệnh kịp thời khi có bệnh.

8. Thận trọng trong sử dụng thuốc, nhất là không được lạm dụng, kể cả thuốc bổ.

9. Thể dục đều đặn và hợp lý phù hợp với lứa tuổi tình trạng sức khỏe.

10. Thường xuyên vệ sinh cơ quan sinh dục cũng như cơ thể.
Điều trị bằng phương pháp hiện đại

Điều trị bệnh bất lực là một lảnh vực hoàn toàn mới trong Y Khoa hiện đại.

Trong 30 năm gần đây người ta mới giải quyết vấn đề một cách tạm bợ bằng các phương pháp giải phẩu hay lắp đặt dương vật giả hoặc dùng dụng cụ bơm chân không.

Mới đây y học đã khám phá ra rằng 75% bệnh nhân bi liệt dương đều có một nguyên nhân thực thể như bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, xương khớp, do stress , do lảo hóa, do rượu thuốc lá hay do thuốc men…

Nguyên nhân tâm lý thuần túy chỉ 25% , tuy nhiên vấn đề tâm lý luôn luôn là yếu tố nền trong tất cả mọi nguyên nhân gây ra tình trạng bất lực thật sự hay bất lực tuyệt đối. Trong mọi nguyên nhân gây bất lực luôn luôn có sự lồng ghép nguyên nhân tâm lý.

Hiện nay các phương pháp điều trị bao gồm thuốc uống, thuốc chích vào dương vật , máu, thoa tai chổ , thuốc dán xuyên qua da , thuốc nhét vào niệu đạo , dụng cụ bơm chân không, lắp đặt dương vật giả, giải phẩu mạch

MÔ HÌNH CÁC BƯỚC ĐIỀU TRỊ

MÔ HÌNH CÁC GIAI ĐỌAN ĐIỀU TRỊ

ĐIỀU TRI : Gồm có hai phần Tâm lý trị liệu và bằng dược phẫmTâm lý trị liệu nhằm giải tỏa các ức chế tâm lý , các Stress , suy nhược thân kinh , các bệnh tâm thần.

Điều trị bằng thuốc :

Làm Giãn Cơ : Gồm Papaverine, Nitroglycerine, Verapamil. Vasoactive intestinal peptide. Alprostadil. Intraurethral prostaglandin
Ngăn cản Alpha-adrenceptor: Phentolamine . Phenoxybenzamine . Yohimbine
Chế ngự Phosphodiesterase type 5: sidenafil

THUỐC UỐNG

YOHIMBINE, DELQUAMINE, PHENTOLAMINE,TRAZODONE ,APOMORPHINE

L-ARGININE Đây là một acid amine nguồn cung cấp NO , nó được xem như một dược phẫm điều trị bệnh liệt dương SILDENAFIL ,BROMOCRIPTINE…

THUỐC CHÍCH VÀO THỂ HANG

Có rất nhiều dược phẩm có khả năng làm gây cương khi chích

vào thể hang. Nhưng tựu trung chỉ có 3 loại là được chấp nhận để điều trị , đó là papaverine , phentolamine va ø prostaglandine E1 . Còn các dược phẩm khác thì vì bị mất hiệu quả hoặc có nhiều tác dụng phụ nặng nề xãy ra trên hệ thống tuần hoàn

THUỐC LIÊN QUAN ĐẾN OXYTOCINE

KÍCH THÍCH TỐ TESTOSTERONE

THUỐC DÁN VÀO DƯƠNG VẬT

BĂNG DÁN NITROGLYCERINE, MINOXIDIL

MUSE

( Medical Transurethral delivery System for Erectile dysfunction )

Đó là thuốc điều trị bằng cách nhét vào niệu đao , tác dụng của nó là kết qủa của khám phá vai trò kết nối của mạch máu giữa Thể Xốp và Thể Hang của dương vật, Do đó thuốc có thể thấm và đi vào thể hang cuối cùng lamø cho dương vật cương lên như  khi dùng thuốc chích tại chổ

NHỮNG THỨ KHÁC :

Thuốc thường làm từ những thứ dể tìm và rẻ như rượu rắn , bim bịp,tắt kè . Khó hơn như hãi cẩu ,cọp, tê giác..ruồi Tây Ban Nha . Độc hại chết người như hột mã tiền, strychnine..Thứùc ăn từ đơn giản cho đên cầu kỳ như nghêu sò ốc hến,cần tây hành tỏi ớt tiêu, dich hòan ,dương vật của gà heo bò ngưa nai,,,,,các thang thuôc như Ích Đa Tán, Các Bà Phương của Trung Quốc ,Thang Gia Long, Minh Mạng , Các thuốc gia truyền được điều chế từ các dược thảo không rõ nguồn gốc không thể kiễm chứng

LẮP DƯƠNG VẬT GĨA

Đó là một cách nói, thực sự người ta giải phẩu dương vật và đặt vào đó một thiết bị ,có hai loại : thiết bị dùng thủy lực và một loại không dùng thủy lực.

PHƯƠNG PHÁP LẮP ĐẶT DƯƠNG VẬT GIÃ

Bệnh nhân sẽ chiụ một cuộc giải phẩu nhỏ . Một đương mỗ được thực hiện ở phần dưới dương vật ngay nơi nếp tiếp xúc giữa dương vật và biù dái , người ta xẽ một đoạn nhỏ dài từ 2 đến 3 cm banh ra tim hai thể hang ,xẽ ra và đặt vào đó hai thanh dương vật giã ,hoặc hai ống thủy lực rồi may lại , nếu dùng loại thủy lực có hai hay ba thiết bị thì phài tìm chổ đề dâu các thiết bị này thường chúng được dấu trong buì dái hoặc sau xương mu

GIẢI PHẨU MẠCH MÁU

Giải phẩu mạch máu dương vật chỉ được tiến hành sau khi có chẩn đoán chính xác về rối loạn cương dương vật có nguyên nhân do mạch máu

Giải phẩu mạch máu ,nhất là lại mạch máu của dương vật qủa thật là khó khăn ,không chỉ là nó qúa nhỏ mà còn chẳn may thất bại thì có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường được,cho nên nó chỉ nên được thực hiện như một trường hợp nghiên cứu ở một trung tâm giải phẩu kỷ thuật cao

Một cách tổng quát thì biện pháp giải phẩu mạch máu chỉ xữ dụng khi có nguyên nhân là rối loạn chức năng của tỉnh mạch cũng như động mạch thường là ở cuối của giai đoạn chín mùi tỷ lệ thành công rất kém ,chỉ dưới 40% , và biến chứng như nhiễm trùng, đau,cương cứng lâu và đau sau hậu phẩu ,kể cả hoại tủ dương vật là những nguy cơ có thể gặp bất cứ lúc nào(Jarrow và De franzo 1992 )

{tab=Lời khuyên}

Tập thể thao khoảng 30 phút mỗi ngày đặc biệt từ độ tuổi trung niên.
Các loại hình thể thao thích hợp như đi bộ, đi xe đạp, bơi lội, chạy tốc độ vừa phải…giúp cơ thể khoẻ mạnh, giảm stress và cải thiện tâm trạng.

{tab=Dinh dưỡng}

Thịt chó hầm bát giác, tiểu hồi hương, trần bì:

Thịt chó 500g; bát giác, tiểu hồi hương, trần bì đều 5g. Thịt chó rửa sạch thái miếng, các thứ trên cho vào túi nhỏ, đổ nước vào hầm cùng thịt chó đun nhỏ lửa cho đến khi thịt nhừ. Thịt chó vị cay mặn, tính ôn, nhập kinh thận có tác dụng bổ thận tráng dương, có chứa protid, lipid và hormon  động vật, có khả năng cải thiện chuyển hóa cơ bản của cơ thể và chức năng tuyến sinh dục.

Dạ dày dê, hạnh đào nhục, mã thầy:

dạ dày dê 250g, hạnh đào nhục 25g, mã thầy 50g. Dạ dày dê rửa sạch, đun chín tái rồi ướp với bột canh, xì dầu, rượu, đường rồi thái chỉ xếp vào đĩa. Mã thầy, hạnh đào nhục đặt lên trên đĩa dạ dày mang hấp khoảng 20 phút là ăn được. Dạ dày dê vị cay mặn, tính hơi ôn, có tác dụng bổ thận tráng dương là loại thức ăn chứa huyết nhục để sinh âm tân ích khí. Dạ dày dê có chứa lipid, protid và sinh tinh ích tủy. Mã thầy tính hàn vị ngọt, tác dụng tư âm táng hỏa, khai vị tiêu thực nhuận táo hóa đờm, thanh âm, minh mục.

Gà trống tơ hầm hà thủ ô, thục địa, tử hà xa, đại táo:

Gà trống tơ 1 con, hà thủ ô 50g, thục địa 30g, tử hà xa 15g, đại táo 10 quả. Gà làm sạch, cho các vị thuốc trên vào bụng gà, khâu lại và hầm cách thủy khoảng 2 tiếng, ăn trước khi đi ngủ. Gà là thức ăn bổ khí huyết, ích thận tinh, có nhiều protid để bổ sung năng lượng tiêu hao của cơ thể. Đại táo vị ngọt, tính bình có tác dụng bổ tỳ vị.

Chú ý không ăn đồ cay, lạnh, tránh lao động nặng, tăng cường rèn luyện thể chất.

Uống rượu chim bìm bịp

Chim bìm bịp có hai loài: loài có kích thước lớn, tên khoa học là Centropus sinensis Stephen và loài nhỏ là C.benghalensis Gmelin.

Hai loài đều có thân mình dài, mỏ to nhọn, mắt đỏ, đuôi dài hơn cánh. Toàn cơ thể có lông màu đen, riêng cánh màu nâu đỏ.

Là loài chim định cư, bìm bịp phân bố phổ biến ở khắp vùng đồng bằng, trung du và vùng núi có độ cao từ 600-800m. Loài chim bìm bịp lớn chuyên sống ở ven rừng có cây cối rậm rạp, loài nhỏ ưa vùng có nhiều lau sậy và cây bụi nhỏ.

Bộ phận dùng làm thuốc của chim bìm bịp là cả con, bắt về, làm sạch lông, bỏ hết phủ tạng rồi dùng sống. Thịt chim bìm bịp có vị ngọt, tính ấm, không độc, được dùng làm thuốc bổ máu, giảm đau, tiêu ứ, chữa hư lao, suy nhược, chân tay nhức mỏi, ứ huyết bầm tím, tê thấp, đau lưng, sản hậu. Dạng dùng thông thường là thịt chim nấu cháo ăn hằng ngày. Hoặc ngâm 2 con bìm bịp (một con lớn và một con nhỏ) với 1 lít rượu 35-40o trong 2-3 tháng, càng lâu càng tốt. Ngày uống hai lần, mỗi lần 30ml. Rượu ngâm chim bìm bịp còn có tác dụng hỗ trợ việc làm liền xương trong điều trị gãy xương kín.

Trong dân gian, người ta hay ngâm rượu chim bìm bịp với tắc kè hoặc cá ngựa và một số dược liệu nguồn gốc thực vật như các loại sâm rừng, nhất là củ sâm cau. Đặc biệt là rượu bìm bịp – ngũ xà gồm chim bìm bịp với 5 con rắn là hổ mang, cạp nong, hổ trâu, rắn ráo và rắn sọc dưa. Rượu này chữa được chứng liệt dương,  suy nhược, hen suyễn, đái rắt, đái buốt. Thuốc rất thích hợp với thể trạng suy yếu, hay đau nhức ở người cao tuổi. Cũng với công dụng trên, ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhân dân lại có kinh nghiệm để chim bìm bịp bị đói trong 2-3 ngày, sau đó cho ăn một con rắn và chờ đúng 3 ngày mới làm thịt rồi ngâm rượu. Họ cho rằng làm như vậy thì tinh chất của thịt rắn sẽ ngấm vào thịt chim làm cho dược tính tác dụng của thịt chim bìm bịp tăng lên gấp đôi
Ăn tỏi giúp ngừa bệnh liệt dương

Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng ăn tỏi giúp tăng cường khả năng tình dục ở nam giới đặc biệt với những người mắc chứng bệnh liệt dương.

Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện St. Thomas nước Anh đã chứng minh rằng ăn 4 nhánh tỏi tươi mỗi ngày giúp giảm cholesterol và tăng cường lưu thông máu đến nuôi dưỡng “cậu nhỏ”.

Trong tỏi có chất allicin rất hữu hiệu trong việc cải thiện lưu thông máu nên rất tốt cho tim và chống lại bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

Nguyên nhân chính gây rối loạn cương dương và bệnh liệt dương:

1. Do mắc các bệnh khác: Những người mắc tiểu đường, bệnh tim mạch, các bệnh thuộc tuyến giáp, hệ thần kinh, bệnh đường tiết niệu hay các bệnh liên quan đến tinh thần đều có thể dẫn đến rối loạn cương dương.

2. Sử dụng thuốc

Trong thời gian sử dụng các loại thuốc chữa bệnh như thuốc huyết áp, thuốc trầm cảm và thuốc chữa loét dạ dày làm tăng nguy cơ bị rối loạn cương dương.

Nên và không nên với nam giới:

Không nên

1. Uống nhiều đồ uống có cồn

Các loại đồ uống có cồn ảnh hưởng lớn đến quá trình tái tạo lại các tế bào, làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng, phá vỡ sự liên hệ giữa não và “cậu nhỏ” đồng thời ngăn chặn sự tạo thành hormone nam androgen

2. Hút thuốc

Chất nicotine trong thuốc lá làm giảm áp suất các động mạch, giảm lưu thông máu đến “cậu nhỏ”, chất độc từ thuốc gây hại đến sự phát triển của tinh trùng.

3. Cần sa

Chất gây nghiên này giảm đáng kể lượng hormone sinh dục nam, bẻ gãy các nhiễm sắc thể và tăng nguy cơ biến đổi gien.

4. Cholesterol cao

Lượng cholesterol cao gây tắc nghẽn các mạch máu nuôi dưỡng “cậu nhỏ”, dẫn tới giảm lưu thông máu để duy trì sự cương cứng.

5. Thừa cân

Thừa cân ảnh hưởng đến sự cân bằng hormone vì thế gây thiếu hụt các hormone cần thiết cho “nam tính” của “cậu nhỏ”.

6. Sử dụng thuốc chữa bệnh

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng rất nhiều loại thuốc chữa bệnh có khả năng gây ra chứng bệnh liệt dương ở nam giới trong đó bao gồm: thuốc giảm huyết áp, thuốc trầm cảm, thuốc mất ngủ, thuốc trị u nhọt hoặc ung thư và thuốc chống dị ứng…

Nên

1. Chế độ ăn

– Ăn 4 nhánh tỏi tươi mỗi ngày rất tốt cho nam giới

– Chế độ ăn nhiều rau quả, cung cấp đủ lượng chất xơ cần thiết khoảng 35g mỗi ngày.

– Các loại lương thực như: gạo, bột mỳ và các loại rau quả thuộc họ đậu, hạt kê, kiều mạch…

– Chất đạm từ các loại cá giàu axit béo omega-3 như cá hồi, cá ngừ, cá mòi và hạt lanh giúp tăng cường sức khoẻ toàn diện.

– Hạn chế ăn nhiều đường và các loại đồ ngọt.

– Hạn chế ăn các loại thịt đỏ và mỡ động vật.

Cua biển chữa bệnh liệt dương

Cua biển luôn là món đặc sản cho mọi lứa tuổi nhất là nam giới. Theo nghiên cứu, cua biển chữa chứng liệt dương, bồi bổ cơ thể.Công dụng của cua biển: Cua biển tính lạnh, vị hàn, có tác dụng thanh nhiệt, sinh huyết bổ xương, tủy, tăng cường sinh lực, chữa chứng liệt dương. Trong 100g thịt cua biển có 15g chất đạm, 2,6g chất béo, vitamin A, canxi và các nguyên tố vi lượng.

hi chế biến và ăn cua biển, không nên ăn cua đã chết vì chất đạm trong cua dễ bị thối nát biến thành chất độc gây hại cho cơ thể. Những người bị dị ứng hải sản, bị rối loạn tiêu hóa, người có cơ địa dị ứng cũng không nên ăn cua biển.

Các món ăn chế biến từ cua

–  Cua rang me : 100g me chín, khoảng 10 con cua, bột năng (bột đao) 20g, gia vị, tiêu hạt, tỏi, rau thơm đủ dùng. Cua làm sạch, để ráo nước ướp với gia vị, hạt tiêu, tỏi băm nhỏ khoảng 30 phút rồi cho lên rán chín. Me cho nước vào, bỏ hột gạn lấy khoảng nửa bát nước (bát ăn cơm), pha cùng với bột năng đã hòa với nước lạnh, nêm chua ngọt. Sau đó đổ hỗn hợp nước trên vào cua đã rang chín, đun nóng lên là dùng được.

–  Chả cua nướng : Thịt cua 200g, thịt lợn nạc 100g, trứng gà (vịt) 2 quả, mỡ lợn, hành, gia vị đủ dùng. Cách làm: xay nhuyễn thịt cua cùng với thịt nạc sau đó trộn với trứng, hành, gia vị rồi đem nướng khoảng 20 phút là chín. Món này ăn cùng rau sống sẽ ngon hơn.

–  Súp cua ngô non : Thịt cua 200g, ngô non tươi 100g, xương lợn 500g, hành tây, gia vị, nước đủ dùng. Hầm xương lợn khoảng 1 giờ trên bếp, vặn nhỏ lửa, hớt bọt. Sau đó hòa bột năng vào thành nước sền sệt rồi cho thịt cua, ngô non đã bào nhỏ vào đun đến khi ngô chín, nêm gia vị vào là dùng được.

–  Cua xào miến dong : Miến 300g, thịt cua 300g, tôm tươi 300g, hạt tiêu, gia vị, hành, tỏi đủ dùng. Miến ngâm trong nước ấm khoảng 10 phút, vớt ra để ráo nước. Tôm hấp hoặc rang chín, bóc vỏ. Cách làm: cho chảo nóng, đổ dầu phi thơm tỏi rồi cho cả tôm, cua vào xào chín tới, nhắc xuống. Miến xào chín, đổ các thứ trên vào trộn đều, ăn khi còn nóng.

Tôm đồng

Theo Đông y, tôm vị cam ôn quy vào can, thận. Tác dụng bổ thận tráng dương, thông nhũ (lợi sữa). Dùng cho các trường hợp thận hư, liệt dương, tắc sữa mụn nhọt, áp-xe, các ổ viêm tấy mưng mủ… Dùng dưới dạng nấu, luộc, hầm, xào, nướng, rán. Còn âm hư hoả vượng, có các bệnh ngoài da (chàm chốc, dị ứng…) nên thận trọng.

Một số món ăn từ tôm đồng

– Tôm xào lá hẹ: tôm 125g, rau hẹ 200g thêm gia vị, xào chín. Dùng cho các trường hợp liệt dương giảm dục tính.

– Tôm rang tắc kè: tôm 500g, tắc kè 2 con sấy khô; xuyên tiêu 120g, hồi hương 120g, mộc hương 30g. Mộc hương tán bột để riêng. Tất cả trộn với muối và rượu, rang trên chảo cho chín khô, tán bột, cho bột mịn mộc hương trộn đều, để nguội, cho lọ đậy kín. Mỗi lần uống 1 thìa canh khi đói, uống với chút rượu. Dùng cho bệnh nhân thận hư, liệt dương, di tinh.

Hoặc trứng tôm 20g, trứng chim sẻ 2 – 3 quả; ăn trong ngày.

– Canh tôm chân giò: tôm 100 – 150g, rượu 250 ml, chân giò một cái. Tôm bóc vỏ, cho rượu đun nhỏ lửa cho chín, chân giò làm sạch chặt lát, thêm gia vị (có thể thêm khoai tây, cà rốt…), ninh hầm chín nhừ. Dùng cho sản phụ ít sữa tắc sữa; nam giưới thận hư liệt dương.

– Tôm chần rượu gạo: tôm 500g (bỏ vỏ chần nước sôi), nghiền nát, khi ăn uống kèm rượu nhẹ hâm nóng; ngày 2 – 3 lần, kết hợp với ăn canh chân giò. Dùng cho sản phụ sau đẻ ít sữa.

Tôm càng tươi 100g (bóc vỏ, cắt nhỏ) xào với 20ml rượu trắng hoặc rang tôm rồi đảo lại với rượu; ăn trong ngày. Dùng cho sản phụ sau đẻ ít sữa.

– Canh tôm hoàng kỳ: tôm càng 10 con, hoàng kỳ 20g, thêm gia vị, rau đậu thích hợp nấu canh. Dùng cho các bệnh nhân bị mụn nhọt đã vỡ mủ nhưng lâu ngày chưa hết sưng nề hoặc các sẹo mổ lâu liền.

Các nhà khoa học chiết chất chitosan từ vỏ tôm càng, một chất có tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, như một chất kháng acid tự nhiên trong việc cải thiện khả năng hấp thu calci, giảm lượng acid uric trong máu, giảm cholesterol…

Chế độ dinh dưỡng cho người yếu sinh lý

Dinh dưỡng và bệnh tật có một mối liên quan mật thiết. Từ rất xưa các nhà y học đã nhận thấy điều đó. Thiếu hay suy dinh dưỡng sẽ mang lại một số bệnh tật, sẽ làm trẻ con chậm phát triễn, dể mắc phải các bệnh nhiễm trùng, dễ tử vong…

Thiếu niacine ( PP ) đưa đến bệnh Pellagre với triệu chứng viêm da niêm, tiêu chảy. Thiếu B1 gây ra tê, phù. Thiếu B6 gây nức môi viêm lưỡi, buồn nôn chóng mặt Thiếu sắt ( Fe ) gây teo tinh hoàn. Thiếu kẽm ( Zn ) sẽ làm suy giảm sinh sản tinh trùng….

Hiện tại Y Học dang chú trọng dến vai trò dinh dưỡng trong việc phòng bệnh nhất là các bệnh về tim mạch, nội tiết, ung thư, lão hóa…. Tổ chức Y Tế Thế Giới hô hào các biện pháp chống hút thuốc chống uống rượu. Ở phương Tây người dân đang có khuynh hướng ăn chay, các chế độ tiết thực hạn chế chất béo động vật ở người dư thừa cholesterol hay bị bệnh tim mạch

Về phưong diện điều trị thì chế độ dinh dưỡng được xem là một phần trong kế hoạch trị liệu, đôi khi nó lại là yếu tố quyết định như trong trường hợp bệnh tiểu đường giai đoạn đầu thì vấn đề điều trị chỉ là một khẩu phần dinh dưỡng với chất bột hạn chế, hay suy thận ure huyết cao thì chế dộ ăn phaỉ hạn chế chất thịt phải ở mức thấp nhất, còn đối với người bất lực, liệt dương, suy yếu sinh lý ( ED ) thì liệu có một chế độ dinh dưỡng có khả năng hổ trợ tăng cường sinh lực cho họ không ?

Ðiểm lại vài nét của vấn đề này qua lịch sử văn hóa của vài quốc gia quanh nước ta như Ấn Ðộ, Trung Hoa, Nhật Bản…Các tác phẩm nghiên cứu hay viết về vấn đề tình dục nổi tiếng ở phương Ðông như Kamar Soutra của Ấn Ðộ. Ðộng Huyền Tử, Ngọc Phòng bí kiếp, Ðạo Gia Mật Truyền, Nhục Bồ Ðoàn, Huyền Nữ kinh, Tố Nữ kinh… của Trung Quốc. Ða ?ó một thời các tác phẩm này được xem là dâm thư vì người ta cho rằng Giáo Dục Giới Tính hay thố lộ chuyện ái ân

Hoặc nói về chuyện các bệnh “kín”, bệnh bất lực, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh là chuyện đồi phong bại tục, khiêu dâm…

Thự? sự khi đọc Tố Nữ kinh dưới mắt của một người nghiên cứu Giáo Dục Giới Tính ta mới thấy được cái hay, cái uyên bác, cái sâu sắc dầy tính khoa học của người xưa, một tác phẩm ra đời cách đây 1500 năm vẫn không mang tính lạc hậu về khoa học, có thể tìm thấy trong đó công thức pha chế Võ Hậu Tửu, rượu dành riêng cho Võ Tắc Thiên, về tác dụng của Dâm Dương Thảo Nhật Bản mà người Tàu trước đó đã từng nói ” Liên dương khuất liểu dâm dương thảo, dã hội nhiệt trung vi giao tiếp “. Rượu chế từ loại cây này gọi là Tiên Linh Tì Tửu hay Dâm Dương Tưủ.

Trong một đoạn sách của Tố Nữ Kinh có viết lại lời vấn đáp giữa Thái Nữ và Bành Tổ như sau: Thái Nữ hỏi “Ðạo giao hợp ta đã nghe, đã biết. Ta cũng biết rằng muốn dưỡng tinh cần phải phục dược, vậy thì những dược liệu nào có hiệu qủa ?”

Bành Tổ đáp “Nếu muốn cường tráng, trẻ mãi không già, việc phòng sự vui thú không mệt mõi, khí lực và dung mạo lúc nào cũng xinh tươi không suy giảm thì dùng nhung lộc là tốt nhất “

Sách Tiền Hán Thư chép Hán Cao Tổ là người thực hành vị thuốc này. Vua Tùy Dương Ðế xuông chiếu cầu ai có toa thuốc Cừơng Dương thì dâng lên. Vợ của Hoa Phù đã dâng vua một toa thuốc gọi là Ích Ða Tán có công hiệu trong việc trị bệnh liệt dương và tăng cường sinh lực. Ngoài ra còn các toa thuốc như Cực Yếu Phương, Cát thị Phương, Lão Bà Phương, Bản Thảo của Tô Kinh, Bí Mật Yếu Thuật Phương vẫn còn lưu truyền cho đến bây giờ.

Trong lịch sử nước ta có rất nhiều vị Hoàng Ðế vô sinh đã bao lần xuống chiếu cầu người dâng thuốc trị bệnh liệt dương như Hoàng Ðế Lý Thần Tông, Hòang Ðế Trần Dụ Tông, Khải Ðịnh Hoàng Ðế …( SK&ÐS 16, 34, 35, 37)

Tuệ Tỉnh một danh y vào thế kỷ XIV trong tác phẩm Nam Dược Thần Hiệu ông chỉ chú trọng những trường hợp di tinh, mộng tinh suy nhược sinh lý ông cho rằng nguyên lý của việc điều trị là phải bổ dưỡng tâm thận, mà trước hết là phải điều hòa tỳ vị, làm cho tâm thận được củng cố, tỳ vị được bồi bổ.

Ðối với kinh nghiệm của Hải Thượng Lãn Ông ghi trong Y Trung Quan Kiện thì ” Bổ vị là kinh nghiệm riêng của tôi, luận rằng vị khỏe thỉ ăn uống tăng tiến tinh ba hằng ngày sản sinh không ngớt mới có thể chuyễn vận về thận . Sách nói vị mạnh thì thận khỏevà tinh khí dồi dào, vị hư thì tinh bị thương tổn mà dương sự cũng bị suy kém “

Trong nhân gian vẫn còn lưu truyền những thang thuốc của vua Gia Long, Minh Mạng, nhữ ng thức ăn, thức uống trị bênh liệt dương như rượu rắn tam xà ngũ xà…rượu tắc kè, rượu bìm bịp, cá ngựa, sừng con tê giác, lộc nhung, cao lộc, ngọc dương, ngầu pín……

Hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào về các bài thuốc cũng như các thứ nêu trên khả dĩ thuyết phục được mọi người

Hiện tại ở nước ta chưa có một điều tra cơ bản về tần xuất bệnh liệt dương trong quần chúng như các nước quanh ta Thái Lan, Singapor, Mã Lai…mà chỉ có phỏng doán là chừng 3 dến 4 triệu người có trục trặc một lần nào trong đời về cương dương vật (ED). SK&ÐS 35

Trong bệnh viện chưa thấy có khoa điều trị bệnh bất lực, chưa thấy có thầy thuốc chuyên khoa loại bệnh này. và cũng hiếm có bệnh nhân nào xin vào nằm điều trị mà thường chỉ xin tham vấn mà thôi.

Trong giáo trình của các trường Ðại Học Y Khoa, môn Tình Dục Học chỉ là một hai bài nằm trong Niệu Khoa

Người ta bỏ ra rất nhiều tiền để nghiên cứu về sạn túi mật, nhưng thử hỏi số lượng bệnh nhân sạn mật có băng một phần mười bệnh nhân ED không ? Ðiều trị được ED đồng nghĩa với mang lại hạnh phúc cho hai người.

Các toa thuốc trị bệnh liệt dương của nước ta có gía trị thực tế hay không ? Câu trả lời là có thể có nhưng chúng ta phải làm lại từ đầu bằng cách phân tích nghiên cứu và thực nghiệm trên lâm sàng

Một anh bạn BS của tôi nói đùa”Tại sao lại dùng rắn hổ mang, tắc kè, cá ngưạ để làm thuốc cường dương, e chắc các con vật ấy sững cồ y như lúc cương dương chăng?” người ta vẫn thường cho rằng ăn gì thì bổ ấy, giống gì cũng bổ luôn !!!!???

Tại sao phải dùng ngọc dương, ngầu pín…. Tại sao lại dùng dâm dương thảo, dương khởi thạch chắc nó phải có lý do nào đó

Trong SK&ÐS số 36 chúng tôi có đề cập đến cơ chế cương dương vật do NO ( oxide nitric ) NO được phóng thích do men Phosphodiesterase type 5 bị ức chế trong chu trình Guanosine Monophosphate( cGMP) NO có tác dụng làm dãn cơ trơn quấn quanh mạch máu dương vật, làm cho máu dồn đến dương vật càng ngày càng nhiều nên làm căng cứng.

NO được cung cấp từ đâu ? đó là vấn đề then chốt mà tôi muốn được giới thiệu, đồng thời giải thích tại sao các dược phẫm cổ truyền, các thứ mà ta thường dùng lại có khả năng thành công trong việc đưa ra một chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh bất lực.

Trong tạp chí chuyên về niệu khoa Journal Urology số I trang 942-7 năm 1997 đã đăng công trình nghiên cứu của Moody. JA, Vernet. DA, Laidlaws và các cọng sự khi họ thí nghiệm trên 344 con chuột đực đươc?cho ăn vơí một chế độ dinh dưỡng kéo dài trong hai tháng có thêm trong thực phẩm của chúng 2, 25% L. Arginine và 0, 7% chất L. NAME. Tám tuần lể sau khi cho ăn như thế, các nhà khoa học đã dùng điện trường để khích thích và họ đã đo sức cương của dương vật chuột, đo áp, lực trong thể hang, áp lực trong động mạch dương vật, đo nồng độ chất Arginine và chất NO có trong máu và trong dương vật, nơi tiếp xúc của các mút dây thần kinh thì thấy các chất này tăng lên rõ rệt và người ta nhận thấy một điều rất quang trọng là tất cả số chuột dều cương dương vật gần 100% do hoặt động của NO . Kết luận của thí nghiệm thật rõ ràng là L. Arginine là nguồn cung cấp để sinh ra NO, mà NO lại là tác nhân gây ra tình trạng cương cứng. Vì vậy cho thêm chất L. Arginine vào trong thực phẩm để hổ trợ cho việc điều trị yếu sinh lý hay bất lực liệt dương ( ED ) là một chuyện chắc chắn phải được nghĩ đến.

Gặp GS Nguyễn Lân Ðính, một chuyên gia về dinh dưỡng, chúng tôi cùng thảo luận vấn đề này và tìm hiểu xem chất Arginine có nhiều nhất trong cây, qủa, cơ quan động thực vật nào ở trong xứ ta. Chúng tôi tiến hành tra cứu những phương thuốc cổ truyền có trong dân gian cuối cùng tìm được một điều khá thú vị là có một cây cỏ ở Trung Quốc có hàm lượng Arginine cao nhất so vớ bất cứ mọi loại động thực vật nào Tên của nó là Chinese tallow tree nut flour Trong 100g cây này Có 57% là Protide với 10g Arginine trong khi hạt bí dược xem như có hàm lượng arginine cao nhất trong các loại cây chỉ có 4, 8g Arginine

THẢO MỘC THÀNH PHẦN PROTIDE ARGININE

Dâm dương thảo 57, 6 % 10 g

Hạt bí 30, 9 % 4, 8g

Hạt cải 42, 1 % 4, 6g

Hạt mè 19, 3 % 4, 6g

Hạt quỳ 39, o % 4, 0g

ÐỘNG VẬT

Thịt đông 85% 7, 8g

Bột cá 75% 5, 2g

Lòng trắng trứng 85% 5, 0g

Khô cá 81% 4, 6g

Chúng tôi chưa tìm ra số liệu có trong ngọc dương và ngầu pín Trong bài này chỉ đưa ra vài con số Arginine có trong thực phẩm thường dùng. Xin hẹn kỳ tới sẽ đưa ra một bản đề nghị phối hợp thế nào để có một khẩu phần thực tế cho những bệnh nhân suy yếu sinh lý.

Thịt trai

Với nam giới bị yếu sinh lý ăn cháo trai một thời gian sẽ thấy có tác dụng cải thiện rõ rệt. Người mắc bệnh đái tháo đường dùng món cháo trai nên thay gạo tẻ bằng bột củ mài là một dược thảo có tác dụng tốt cho bệnh đái tháo đường.

Đặc biệt, trai là vị thuốc quý được Đông y dùng từ lâu đời. Theo Đông y, thịt trai tính hàn, giúp bổ âm, giải độc, làm sáng mắt, thường được dùng cho phụ nữ có thai, đang cho con bú, những chị em bị băng huyết, ra nhiều khí hư, trẻ em chậm lớn, ra mồ hôi trộm. Ngoài ra, thịt trai còn là vị thuốc bổ thận rất hiệu nghiệm.

Giải nhiệt, mát bổ: Trai luộc chín, thái nhỏ, ướp gia vị vừa ăn, xào với hành phi thơm. Lọc nước luộc trai, đun sôi lại rồi cho trai đã xào vào, cho hành, răm, đảo đều ăn với cơm. Hoặc nấu món canh chua gồm thịt trai, quả me, cà chua, rau răm, hành. Phụ nữ có thai dùng món ăn này rất tốt.

Chữa mồ hôi trộm  ở trẻ em: Trai luộc chín, gỡ thịt. Lấy 50g thịt trai thái nhỏ, trộn với một nắm lá dâu non đã rửa sạch, thái nhỏ. Nấu đến khi nhừ thịt trai, thêm ít muối đủ đậm. Cho trẻ ăn hai lần trong ngày để chữa mồ hôi trộm và chứng trẻ hay khóc về đêm. Dùng liền trong 3 – 5 ngày.

Chữa nam giới yếu sinh lý: Chọn con trai to, lấy thịt trai băm nhỏ với mộc nhĩ, giò sống, hành củ, gia vị vừa đủ. Viên thành viên nhỏ cho vào vỏ trai, nướng trên bếp than. Ăn nóng với nước mắm, chanh, ớt. Đối với nam giới trung niên hoặc cao tuổi bị yếu sinh lý, nấu cháo trai ăn thường xuyên sẽ thấy tác dụng tốt.

{/tabs}