Bệnh gout

10
Có 6,973 lượt xem

Đại cương bệnh gout


1. Tổng quan
Gout là bệnh do rối loạn chuyển hóa acid uric dẫn đến nồng độ acid uric máu tăng cao khi đạt đến ngưỡng bão hòa gây lắng đọng các tinh thể urat tại các mô khớp và các mô khác trong cơ thể. Bệnh thường gặp nam giới tuổi trung niên trên 30 hoặc 35 tuổi. Bệnh gout diễn biến theo các giai đoạn:
– Giai đoạn 1: Acid uric tăng cao trong máu cao (thường chưa xuất hiện các triệu chứng)
– Giai đoạn 2: Viêm khớp cấp tính
Các tinh thể acid uric bắt đầu lắng đọng tại khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và gây sưng đột ngột. Cơn gout cấp chỉ diễn ra trong khoảng vài ngày và tự khỏi.
– Giai đoạn 3: Tái phát cơn gout cấp
Các cơn gout cấp thường tái phát. Thời gian tái phát phụ thuộc tình trạng bệnh.
– Giai đoạn 4: Gout mãn tính
Bệnh nhân gout không điều trị, bệnh trở thành mãn tính và gặp nhiều khớp hơn. Các cơn đau liên tục và thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp. Đồng thời, các tinh thể urat lắng đọng ở các khớp và mô, dẫn đến hình thành hạt tophi dưới da.

2. Nguyên nhân
Gout không lây qua đường ăn uống hay đường máu. Có 2 nhóm nguyên nhân gây bệnh: nguyên phát và thứ phát.
a) Gout nguyên phát
– Gen: Bố mẹ mắc bệnh gout, con cái tăng 20% nguy cơ bệnh gout.
– Người dân Anh và Mỹ da đen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn
– 95 % bệnh nhân gout là nam giới, thường gặp tuổi trung niên trên 30 hoặc 35 tuổi. Nữ giới ít mắc bệnh gout (5%), thường là sau tuổi mãn kinh mới xuất hiện.
b) Gout thứ phát
– Do chế độ ăn uống không hợp lý: Bệnh nhân ăn nhiều thịt đỏ (thịt bò, thịt bê…), hải sản, nội tạng động vật và uống nhiều rượu bia…
– Dùng thuốc gây giảm đào thải acid uric qua thận: Thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị lao (PZA, etham), nhóm salicylat, nhóm corticoid và gây độc tế bào, thuốc levodopa, acid nicotinic.
– Một số bệnh làm tăng nguy cơ acid uric máu cao: suy thận, ngộ độc chì, bệnh vẩy nến, suy giáp hoặc cường giáp, đái đường, hội chứng down…
c) Nguyên nhân gây tái phát cơn gout cấp
Cơn gout cấp không chỉ xảy ra khi mức acid uric tăng cao mà còn khi thay đổi nồng độ acid uric một cách đột ngột do một số nguyên nhân sau:
– Ăn nhiều thịt đỏ, uống rượu bia
– Tổn thương về tâm lý và tình cảm
– Đói và mất nước
– Sốc thuốc do tiêm tĩnh mạch
– Uống thuốc điều trị bệnh khác, gây tác dụng không mong muốn giảm đào thải acid uric niệu
– Uống thuốc giảm acid uric trong máu: Allopurinol, probenecid…
– Các yếu tố khác

3. Triệu chứng
– Triệu chứng đầu tiên của viêm khớp do gout thường là sưng, nóng, đỏ các khớp một cách đột ngột. Khớp thường bị nhất là khớp bàn-ngón ở ngón chân cái. Viêm khớp cấp do gout tại khớp bàn-ngón ở ngón chân cái được gọi là bệnh podagra (bệnh gout chân).
– Ngay cả nếu không được điều trị, cơn đau đầu tiên có thể tự hết trong vòng 1 đến 2 tuần. Các triệu chứng đau và sưng có thể khỏi hoàn toàn nhưng viêm khớp do gout lại thường hay tái phát ở cùng một khớp hay trên một khớp khác.
– Sau một thời gian, các đợt viêm xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn và xảy ra ở nhiều khớp hơn…
– Tinh thể urat lắng đọng tại thận gây sỏi thận
– Tinh thể urat có thể lắng đọng ở ổ khớp tạo thành hạt tophi…

4. Chuẩn đoán bệnh gout
– Các xét nghiệm chuẩn đoán

+ Xét nghiệm tìm tinh thể muối urat: Soi dưới kính hiển vi để xác định tinh thể urat trong dịch khớp hay trong hạt tophi.
+ Xét nghiệm máu: Kiểm tra chỉ số acid uric trong máu
+Chụp X-quang
– Tiêu chuẩn: (Wallace, Robinson năm 1997):
+ Có các tinh thể urat trong dịch khớp.
Trong hạt tophi có chứa tinh thể urat phát hiện bằng phản ứng hóa học, hoặc soi bằng kính hiển vi phân cực.
+ Có 6 trong số 12 dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm hoặc X-quang sau:
• Có trên 1 đợt viêm khớp cấp tính.
• Viêm đạt đến mức tối đa trong vòng một ngày.
• Viêm 1 khớp.
• Khớp đỏ.
• Đau hoặc sưng đốt bàn –ngón một bàn chân.
• Tổn thương viêm ở đốt bàn-ngón chân một bên.
• Tổn thương viêm khớp cổ bàn chân một bên.
• Có hạt tophi.
• Tăng acid uric.
• Sưng khớp không đối xứng (chụp X-quang ).
• Có những kén dưới vỏ xương, không có khuyết xương (X-quang).
• Nuôi cấy vi khuẩn dịch khớp có kết quả âm tính trong đợt viêm khớp.

5. Điều trị gout
– Điều trị gout cấp
+Thuốc chống viêm NSAIDS: indomethacin, ibuprofen, naproxen, celecoxib, natri diclofenac… Chú ý không dùng aspirin cho trường hợp này.
+Colchicine: Giảm đau cơn gout cấp và ngăn ngừa tái phát các cơn gout cấp.
+Corticosteroid và ACTH được xem là những thuốc có hiệu quả điều trị cơn gút cấp vì hoạt tính chống viêm của thuốc. Do có một số tác dụng phụ, các thuốc này được dành để điều trị cơn gút cấp kháng thuốc.
– Giảm acid uric máu: Mục tiêu điều trị là giữ mức acid uric ở khoảng 5-6 mg/dL, tránh tái phát gout cấp
+ Allopurinol: ngăn chặn xanthine oxidase và làm giảm sản xuất Acid Uric.
+ Sulfinpyrazone: Sulfinpyrazone là một chất làm tăng bài tiết Acid Uric qua nước tiểu nhưng ít dùng vì nguy cơ ức chế tủy xương.
+ Probenecid: Một số nhà khớp học chọn dùng probenecid vì ít gây tác dụng phụ hơn allopurinol. Probenecid có thể dùng ở đa số đàn ông bị Gout, tuổi trung niên, khoẻ mạnh. Chỉ định dùng allopurinol thay vì probenecid khi có suy thận .
+ Urate-oxidase (uricase) được dùng ở châu Âu để đề phòng tăng Acid Uric máu nghiêm trọng do hoá trị ung thư, và cho bệnh nhân kháng với các điều trị gout thông thường.
+ Benzbromarone là một tác nhân tăng Uric-niệu hiệu quả. Tuy nhiên, nó có thể gây nhiễm độc gan cấp.
+ Febuxostat, chất ức chế xanthine oxidase không purine dùng thay thế allopurinol trong các bệnh nhân không đáp ứng thuốc hoặc suy thận.

6. Chế độ ăn

– Hạn chế thức ăn nhiều đạm (thịt bò, hải sản, nội tạng động vật…), chất béo và uống bia rượu.
– Không ăn nhiều các loại đậu hạt, măng tây.
– Dùng nhiều: Các loại rau xanh, trái cây tươi, các loại ngũ cốc
– Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.
– Tăng cường vận động.
– Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…

 

Bệnh gout thứ phát

I. ĐẠI CƯƠNG
Bệnh Gout, còn gọi là thống phong, là bệnh lý ứ đọng tinh thể monosodium urate tại khớp và mô liên kết nơi khác do tăng quá độ acid uric trong máu. Biểu hiện lâm sàng thường là hội chứng viêm một hoặc nhiều khớp cấp tính, tái diễn và một số biến chứng ở cơ quan khác. Khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện là bệnh nhân đã có tăng acid uric trong máu một thời gian dài; tuy nhiên, cũng có một số ngừơi chỉ có hội chứng tăng acid uric/máu mà không hề đưa đến viêm khớp gout. Hội chứng tăng acid uric và bệnh gout có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.

II. NGUỒN GỐC VÀ THẢI TRỪ ACID URIC

 

  1. Nguồn cung cấp và sản xuất
–         Ngoại sinh: ăn nhiều chất đạm gốc purin
–         Nội sinh: cơ thể tự tổng hợp từ acid nucléotid có sẵn.
  1. Đào thải:
–         Thận: chủ yếu (70%)
–         Ruột
III. CHẨN ĐOÁN (NewYork 1966)
Khi có 2/4 tiêu chuẩn sau:
1.      Viêm cấp 1 khớp  ≥ 2 lần
2.      Viêm khớp bàn-đốt ngón chân 1
3.      Tôphy
4.      Đáp ứng với điều trị colchicin

IV. NGUYÊN NHÂN:

A.     Gout nguyên phát (95%)

 

–         Di truyền (25%)
–         Hội chứng X (rối loạn chuyển hóa glucid- protid-lipid)
–         Nam giới- tuổi trung niên- tầng lớp được ưu đãi

 

B.     Gout thứ  phát:

 

BỆNH LÝ
THUỐC
–         Huyết học (++)
–         Thận (suy thận)(+++)
–         Ngộ độc (chì, beryllium)
–         Vảy nến
–         Suy giáp, cường cận giáp
–         Đái tháo đường nhiễm toan, đái tháo nhạt
–         Hội chứng Down
–         Ung thư phổi, cao huyết áp
–         Lợi tiểu (+++)
–         Thuốc lao (PZA, etham)
–         Nhóm salicylat
–         Corticoid + độc tế bào
–         Acid nicotinic
–         Levodopa

– Acid uric có thể tăng khi: nhịn đói, hoạt động thể lực nặng, ngộ độc rượu cấp.

V. MỘT SỐ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG NGOÀI KHỚP:

– Viêm mạch máu, bệnh lý tắc nghẽn động mạch thường gặp ở chi dưới
– Viêm màng ngoài tim
– Viêm kết mạc, viêm mống mắt
– Viêm tuyến mang tai
– Viêm thanh quản, viêm thực quản
– Viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, tình trạng priaprisme.
– Viêm màng não, hội chứng não cấp, hội chứng thần kinh ngoại biên do tophi chèn ép
VI. MỘT SỐ BỆNH LÝ GOUT THỨ PHÁT:
Gout thứ phát chiếm tỷ lệ thấp (5-10%) so với gout nguyên phát, nhưng thường nặng và khó điều trị hơn. Trong nhóm bệnh gout phụ nữ, gout thứ phát lại chiếm tỉ lệ khá cao. Nghiên cứu của Massé và De Sèze, với gần 500 bệnh nhân, nhận xét:
– Nam: gout thứ phát  là 6%
– Nữ: gout thứ phát xác định là 17%, nghi ngờ là 33%
Gout Do Suy Thận
Khi urê huyết vượt quá 1g/l thì hầu hết bệnh nhân đều có tình trạng tăng acid uric máu kèm theo. Tăng acid uric cũng rất thường gặp trong nhiễm độc thai nghén và ngộ độc chì, thông qua tổn thương ở cầu thận. Ngoài ra, người ta còn thấy hội chứng tăng acid uric máu ở bệnh nhân đái tháo nhạt do nguyên nhân thận. Một số trường hợp bệnh nhân đến khám bệnh vì viêm khớp gout, đồng thời phát hiện được tình trạng suy thận song song, đã đặt ra cho chúng ta vấn đề về chẩn đoán nguyên nhân, gout là nguyên nhân hay là hậu quả của suy thận. Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, tăng acid uric thường là nguyên nhân đối với nhóm nam giới và ngược lại, là hậu quả của suy thận, đối với nhóm nữ.
Gout do bệnh lý huyết học
Bệnh gout thứ phát do nguyên nhân huyết học có thể gặp ở bệnh lý tăng sinh tủy, đặc biệt khi đã có biến chứng suy thận, như:
– Đa u tủy, bệnh lý globulin
– Xơ tủy (myélosclérose)
– Bệnh bạch cầu cấp hay mãn dòng tủy hay dòng lympho.
– Thiếu máu bất sản
– Thiếu máu tán huyết mãn: thalassemie, depranocytoe, bệnh Minkowski Chauffard, thiếu máu Biermer.
Tăng acid uric trong nhóm bệnh huyết học chủ yếu do tăng sản xuất từ quá trình thoái hoá nucleoprotein của tế bào bệnh lý hay khi điều trị bằng các thuốc độc tế bào. Acid uric máu trong nhóm này thường rất cao, vượt quá 10mg%. Bệnh xuất hiện với tỷ lệ thấp nhưng diễn biến nặng.
Gout do vảy nến
Trong khi điều trị và theo dõi bệnh vảy nến, người ta nhận thấy acid uric máu trung bình của nhóm này cao hơn nhiều so với nhóm chứng. Hội chứng tăng acid uric máu của nhóm này thường có liên quan đến quá trình thoái hóa nucleiprotein do tổn thương tế bào biểu bì. Vì vậy, khi tổn thương da càng nhiều, càng tiến triển thì acid uric máu càng cao.
Gout do thuốc lợi tiểu
Cơ chế của hội chứng tăng acid uric do thuốc lợi tiểu là giảm thải trừ acid uric qua ống thận một cách gián tiếp thông qua việc làm giảm thể tích máu lưu thông dẫn đến tăng tái hấp thu acid uric. Sử dụng thuốc lợi tiểu làm nặng thêm bệnh gout sẵn có hoặc làm phát sinh bệnh. Điều trị bệnh, ngoài việc ngưng thuốc, nhóm thuốc tăng thải acid uric là chọn lựa phù hợp với cơ chế bệnh sinh, tuy nhiên allopurinol vẫn cho kết quả tốt.
Gout và bệnh tăng huyết áp
Người ta nhận thấy nồng độ acid uric máu của bệnh nhân tăng huyết áp thường cao hơn nhóm chứng. Các nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa bệnh tăng huyết áp và tăng acid uric/máu mang tính độc lập cho dù có hay không có suy thận và sử dụng thuốc lợi tiểu. Người ta cho rằng Noradrenalin và Angiotensin II có vai trò trong việc làm tăng acid uric máu thông qua cơ chế làm giảm bài tiết acid uric qua ống thận.
Gout và Suy giáp
Leeper và cộng sự nhận thấy acid uric máu trên bệnh nhân suy giáp thường cao hơn nhóm chứng, ngược lại cũng có một số tác giả nhận thấy nồng độ hormon tuyến giáp thấp ở bệnh nhân gout.
Bệnh Lesch-Nyhan:
Bệnh di truyền có liên quan đến khiếm khuyết gen ở nhiễm sắc thể X. Bất thường gen gây ra rối loạn hoàn toàn hay một phần hoạt động của men hypoxanthine-guanin phosphoribotransferase. Chỉ gặp ở bé trai vài tháng tuổi với chậm phát triển tâm thần-vận động, tăng trương lực, rối loạn vận động kiểu múa vờn và co quắp làm tổn thương môi, ngón tay v.v.. Bên cạnh đó là tình trạng tăng acid uric máu và gây nên viêm khớp gout khi bé khoảng 10 tuổi. Allopurinol có thể cho kết quả tốt đối với bệnh này.
Một số bệnh gout thứ phát khác
– Cường giáp: hiếm gặp hơn bệnh giả gout (tinh thể calci)
– Đái tháo đường nhiễm toan: Ở bệnh nhân đái tháo đường không nhiễm toan, hầu như nồng độ acid uric không có nhiều khác biệt. Ngưới ta cho rằng cơ chế làm tăng acid uric máu ở bệnh đái tháo đường nhiễm toan là việc giảm thải acid uric do ức chế acid betabutyric.

– Hội chứng Down

– Ung thư di căn

– Suy tuyến cận giáp

– Bệnh sarcoidose

– Ngộ độc beryllium và ngộ độc chì
– Thuốc: thuốc lao (pyrazinamide, ethambutol), Aspirin (liều thấp từ 50-150mg/ngày), thuốc ức chế miễn dịch (cyclophosphamide, aziathioprine)

 

VII. ĐIỀUTRỊ
A. Nguyên tắc điều trị
Cơn gout cấp, một khi đã được chẩn đoán, cho dù là gout nguyên phát hay thứ phát, cần được điều trị càng sớm càng tốt.
Mục tiêu điều trị:
  1. Chấm dứt quá trình viêm cấp (Kháng viêm không steroid, colchicin, corticoid)
  2. Phòng ngừa cơn cấp tái phát thường xuyên (colchicin)
  3. Phòng ngừa sự lắng đọng thêm cũng như làm giải quyết các tophi sẵn có với các biện pháp làm giảm acid uric trong máu. Ngoài ra, cũng cần điều trị các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và béo phì.
B. Điều trị triệu chứng:
– Colchicin: là thuốc kinh điển trong điều trị cơn gout cấp vì có hiệu quả rất ngoạn mục trên quá trình viêm khớp do tinh thể, đặc biệt là bệnh gout. Chính vì thế mà nó được dùng như một tiêu chuẩn chẩn đoán kể từ năm 1966. Colchicin tác động vào quá trình thực bào của tế bào đa nhân trung tính. Trong những ngày đầu, liều sử dụng thường không vượt quá 4mg/ngày đầu, giảm xuống dần và bắt đầu duy trì từ ngày thứ tư với liều 0,6-1mg/ngày tùy theo trường phái.
– Các thuốc kháng viêm không steroid: cũng có tác dụng kháng viêm giảm đau rất tốt trong viêm khớp cấp do gout. Người ta thường chọn lựa các loại tác dụng nhanh.
– Corticoid thường cho kết quả rất tuyệt vời trong những cơn gout cấp với liều 20-30mg prednison/ngày, tuy nhiên bệnh sẽ tái phát ngay khi ngưng thuốc, đưa đến những hậu quả xấu của việc lệ thuộc corticoid, vì thế hầu hết các tác giả không khuyên dùng. Corticoid được sử dụng trong trường hợp bệnh nhân có bệnh thận, gan hay tiêu hóa, không dung nạp được colchicin hay kháng viêm không steroid. Corticoid có thể dùng đường toàn thân nếu viêm đa khớp, dùng tại chỗ nếu là viêm một khớp và được khuyến cáo chỉ sử dụng trong đợt cấp và không kéo dài.
– Thuốc giảm đau thường được cho kèm theo kháng viêm như acetaminophen đơn thuần hay phối hợp.
– Cho khớp nghỉ ngơi và chọc hút dịch khớp trong trường hợp có tràn dịch khớp nhiều.
C. Điều trị cơ bản:
– Mục tiêu chính của điều trị cơ bản là giảm lượng acid uricmáu xuống ≤ 6mg%.
– Thuốc tăng thải acid uric qua đường niệu (benzbromarone, probenecid, urate oxydase), cần thận trọng vì có thể gây sỏi niệu. Vì thế, không nên dùng khi bệnh nhân có tiền căn sỏi niệu, hay có lượng urat/nước tiểu vượt quá 4,8 mmol/ngày.
– Thuốc ức chế tổng hợp acid uric (allopurinol, tisopurine)
– Một số thuốc mới đang nghiên cứu: Puricase, TMX-67.
– Nước rất quan trọng nhằm mục đích phòng ngừa ứ đọng tinh thể urat tại thận, nên bệnh nhân thường được khuyên uống nhiều nước, hoặc truyền dịch nhằm đảm bảo lượng nước tiểu trong ngày đạt đến 2000ml/24 giờ.

– Chế độ ăn:

·        Giảm tối đa thức ăn cung cấp nhiều đạm gốc purin

·        Giảm calorie
·        Giảm chất béo
– Kiềm hóa nước tiểu: nước pha bicarbonat (ít dùng), acetazolamid, nước suối Vichy, trái cây không chua…
– Phẫu thuật: chỉ định khi các tophi quá lớn ảnh hưởng đến chức năng hay chèn ép gây biến chứng.
VII. KẾT LUẬN:
Bệnh gout có chiều hướng tăng cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội, do đó cần được quan tâm để tránh những hậu quả vì biến chứng hầu như không hồi phục. Bên cạnh thể bệnh nguyên phát, còn có nhóm bệnh thứ phát, tuy không chiếm tỉ lệ đáng kể nhưng lại thường khó điều trị và diễn biến nặng nề. Gout thứ phát có vẻ chiếm tỉ lệ khá cao ở nhóm bệnh nhân nữ.
Trong điều trị cơn cấp, có một số thay đổi trong việc sử dụng, định liều và kết hợp thuốc. Thầy thuốc cần thận trọng nhất là khi chỉ định trên bệnh nhân lớn tuổi và có nhiều bệnh đi kèm, do vậy cũng uống đồng thời nhiều loại thuốc có thể làm ảnh hưởng diễn biến cũng như đáp ứng của bệnh. Trong một số trường hợp, để tránh những phản ứng có hại của một số thuốc điều trị gout, corticoid tại chỗ hay toàn thân có thể được chỉ định nhưng cần hết sức thận trọng và không dùng kéo dài để tránh tình trạng lệ thuộc corticoid.

Bệnh Gout nguyên phát

Gout là một dạng viêm khớp thể hiện qua những cơn đau, sưng khớp do acid uric trong máu tăng cao và gây lắng đọng tinh thể urat tại các ổ xương khớp và các mô khác trong cơ thể. Điểm đặc thù là đau nhức, sưng, đỏ, và nóng cũng như cứng (khó cử động) trong 1 hay nhiều khớp. Do đó bệnh nhân cần chuẩn đoán và điều trị gout sớm để tránh cơn đau tái phát và có thể gây ra thương tổn khớp, gân, và các mô khác.Vậy nguyên nhân bệnh gout là gì?

 

Nguyên nhân gây bệnh gout gồm 2 nhóm gout nguyên phát và gout thứ phát.

Bệnh gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt là bệnh gắn liền với các yếu tố di truyền và cơ địa, những bệnh nhân này có quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng nhiều, gây tăng acid uric.

Bệnh gout thứ phát xuất hiện do tăng acid uric máu sau một số bệnh khác. Khi tìm thấy nguyên nhân gây tăng acid uric máu và loại trừ được nguyên nhân thì bệnh khỏi. Gout thứ phát hay gặp thể viêm khớp cấp di chuyển hơn là thể ngón chân cái và hầu như không thấy thể đa khớp có u cục, thường có kèm theo sỏi thận, hoặc lắng đọng urat ở nhu mô thận. Trong bài trước chúng tôi đã trình bày rõ về nguyên nhân gây bệnh gout thứ phát, phần này chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày bệnh gout nguyên phát.

Bệnh gout nguyên phát là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu, chiếm 95 %. Bao gồm:
+Di truyền (25%): Gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt. Nếu bố hoặc mẹ bạn mắc bệnh gout, nguy cơ mắc bệnh tăng 20 %. Người Anh và người Mỹ da đen (không phải người châu Phi) có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn.
+ Hội chứng X (rối loạn chuyển hóa glucid- protid-lipid): Làm tăng tổng hợp purin nội sinh, dẫn đến tạo nhiều acid uric, và tăng acid uric huyết thanh, gây bệnh gout.
+Đối với gout nguyên phát, thường liên quan giới tính, bệnh nhân mắc bệnh gout chiếm 95% là nam giới và thường khởi phát tuổi trung niên.
Đối với bệnh gout thứ phát, nguyên nhân gây bệnh thường rõ ràng, trong khi đó bệnh gout nguyên phát lại khó xác định nguyên nhân cụ thể. Tuy nhiên, với tiến bộ y học hiện nay, bệnh gout hoàn toàn kiểm soát bằng chế độ ăn và sinh hoạt hợp lý đồng thời điều trị thuốc giảm acid uric trong máu.

 

benhvathuoc.com

LEAVE A REPLY