6:18 am - Saturday August 2, 2014

Bệnh gout

Đại cương bệnh gout


1. Tổng quan
Gout là bệnh do rối loạn chuyển hóa acid uric dẫn đến nồng độ acid uric máu tăng cao khi đạt đến ngưỡng bão hòa gây lắng đọng các tinh thể urat tại các mô khớp và các mô khác trong cơ thể. Bệnh thường gặp nam giới tuổi trung niên trên 30 hoặc 35 tuổi. Bệnh gout diễn biến theo các giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Acid uric tăng cao trong máu cao (thường chưa xuất hiện các triệu chứng)
- Giai đoạn 2: Viêm khớp cấp tính
Các tinh thể acid uric bắt đầu lắng đọng tại khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và gây sưng đột ngột. Cơn gout cấp chỉ diễn ra trong khoảng vài ngày và tự khỏi.
- Giai đoạn 3: Tái phát cơn gout cấp
Các cơn gout cấp thường tái phát. Thời gian tái phát phụ thuộc tình trạng bệnh.
- Giai đoạn 4: Gout mãn tính
Bệnh nhân gout không điều trị, bệnh trở thành mãn tính và gặp nhiều khớp hơn. Các cơn đau liên tục và thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp. Đồng thời, các tinh thể urat lắng đọng ở các khớp và mô, dẫn đến hình thành hạt tophi dưới da.

2. Nguyên nhân
Gout không lây qua đường ăn uống hay đường máu. Có 2 nhóm nguyên nhân gây bệnh: nguyên phát và thứ phát.
a) Gout nguyên phát
- Gen: Bố mẹ mắc bệnh gout, con cái tăng 20% nguy cơ bệnh gout.
- Người dân Anh và Mỹ da đen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn
- 95 % bệnh nhân gout là nam giới, thường gặp tuổi trung niên trên 30 hoặc 35 tuổi. Nữ giới ít mắc bệnh gout (5%), thường là sau tuổi mãn kinh mới xuất hiện.
b) Gout thứ phát
- Do chế độ ăn uống không hợp lý: Bệnh nhân ăn nhiều thịt đỏ (thịt bò, thịt bê…), hải sản, nội tạng động vật và uống nhiều rượu bia…
- Dùng thuốc gây giảm đào thải acid uric qua thận: Thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị lao (PZA, etham), nhóm salicylat, nhóm corticoid và gây độc tế bào, thuốc levodopa, acid nicotinic.
- Một số bệnh làm tăng nguy cơ acid uric máu cao: suy thận, ngộ độc chì, bệnh vẩy nến, suy giáp hoặc cường giáp, đái đường, hội chứng down…
c) Nguyên nhân gây tái phát cơn gout cấp
Cơn gout cấp không chỉ xảy ra khi mức acid uric tăng cao mà còn khi thay đổi nồng độ acid uric một cách đột ngột do một số nguyên nhân sau:
- Ăn nhiều thịt đỏ, uống rượu bia
- Tổn thương về tâm lý và tình cảm
- Đói và mất nước
- Sốc thuốc do tiêm tĩnh mạch
- Uống thuốc điều trị bệnh khác, gây tác dụng không mong muốn giảm đào thải acid uric niệu
- Uống thuốc giảm acid uric trong máu: Allopurinol, probenecid…
- Các yếu tố khác

3. Triệu chứng
- Triệu chứng đầu tiên của viêm khớp do gout thường là sưng, nóng, đỏ các khớp một cách đột ngột. Khớp thường bị nhất là khớp bàn-ngón ở ngón chân cái. Viêm khớp cấp do gout tại khớp bàn-ngón ở ngón chân cái được gọi là bệnh podagra (bệnh gout chân).
- Ngay cả nếu không được điều trị, cơn đau đầu tiên có thể tự hết trong vòng 1 đến 2 tuần. Các triệu chứng đau và sưng có thể khỏi hoàn toàn nhưng viêm khớp do gout lại thường hay tái phát ở cùng một khớp hay trên một khớp khác.
- Sau một thời gian, các đợt viêm xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn và xảy ra ở nhiều khớp hơn…
- Tinh thể urat lắng đọng tại thận gây sỏi thận
- Tinh thể urat có thể lắng đọng ở ổ khớp tạo thành hạt tophi…

4. Chuẩn đoán bệnh gout
- Các xét nghiệm chuẩn đoán

+ Xét nghiệm tìm tinh thể muối urat: Soi dưới kính hiển vi để xác định tinh thể urat trong dịch khớp hay trong hạt tophi.
+ Xét nghiệm máu: Kiểm tra chỉ số acid uric trong máu
+Chụp X-quang
- Tiêu chuẩn: (Wallace, Robinson năm 1997):
+ Có các tinh thể urat trong dịch khớp.
Trong hạt tophi có chứa tinh thể urat phát hiện bằng phản ứng hóa học, hoặc soi bằng kính hiển vi phân cực.
+ Có 6 trong số 12 dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm hoặc X-quang sau:
• Có trên 1 đợt viêm khớp cấp tính.
• Viêm đạt đến mức tối đa trong vòng một ngày.
• Viêm 1 khớp.
• Khớp đỏ.
• Đau hoặc sưng đốt bàn –ngón một bàn chân.
• Tổn thương viêm ở đốt bàn-ngón chân một bên.
• Tổn thương viêm khớp cổ bàn chân một bên.
• Có hạt tophi.
• Tăng acid uric.
• Sưng khớp không đối xứng (chụp X-quang ).
• Có những kén dưới vỏ xương, không có khuyết xương (X-quang).
• Nuôi cấy vi khuẩn dịch khớp có kết quả âm tính trong đợt viêm khớp.

5. Điều trị gout
- Điều trị gout cấp
+Thuốc chống viêm NSAIDS: indomethacin, ibuprofen, naproxen, celecoxib, natri diclofenac… Chú ý không dùng aspirin cho trường hợp này.
+Colchicine: Giảm đau cơn gout cấp và ngăn ngừa tái phát các cơn gout cấp.
+Corticosteroid và ACTH được xem là những thuốc có hiệu quả điều trị cơn gút cấp vì hoạt tính chống viêm của thuốc. Do có một số tác dụng phụ, các thuốc này được dành để điều trị cơn gút cấp kháng thuốc.
- Giảm acid uric máu: Mục tiêu điều trị là giữ mức acid uric ở khoảng 5-6 mg/dL, tránh tái phát gout cấp
+ Allopurinol: ngăn chặn xanthine oxidase và làm giảm sản xuất Acid Uric.
+ Sulfinpyrazone: Sulfinpyrazone là một chất làm tăng bài tiết Acid Uric qua nước tiểu nhưng ít dùng vì nguy cơ ức chế tủy xương.
+ Probenecid: Một số nhà khớp học chọn dùng probenecid vì ít gây tác dụng phụ hơn allopurinol. Probenecid có thể dùng ở đa số đàn ông bị Gout, tuổi trung niên, khoẻ mạnh. Chỉ định dùng allopurinol thay vì probenecid khi có suy thận .
+ Urate-oxidase (uricase) được dùng ở châu Âu để đề phòng tăng Acid Uric máu nghiêm trọng do hoá trị ung thư, và cho bệnh nhân kháng với các điều trị gout thông thường.
+ Benzbromarone là một tác nhân tăng Uric-niệu hiệu quả. Tuy nhiên, nó có thể gây nhiễm độc gan cấp.
+ Febuxostat, chất ức chế xanthine oxidase không purine dùng thay thế allopurinol trong các bệnh nhân không đáp ứng thuốc hoặc suy thận.

6. Chế độ ăn

- Hạn chế thức ăn nhiều đạm (thịt bò, hải sản, nội tạng động vật…), chất béo và uống bia rượu.
- Không ăn nhiều các loại đậu hạt, măng tây.
- Dùng nhiều: Các loại rau xanh, trái cây tươi, các loại ngũ cốc
- Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.
- Tăng cường vận động.
- Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…

 

Bệnh gout thứ phát

I. ĐẠI CƯƠNG
Bệnh Gout, còn gọi là thống phong, là bệnh lý ứ đọng tinh thể monosodium urate tại khớp và mô liên kết nơi khác do tăng quá độ acid uric trong máu. Biểu hiện lâm sàng thường là hội chứng viêm một hoặc nhiều khớp cấp tính, tái diễn và một số biến chứng ở cơ quan khác. Khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện là bệnh nhân đã có tăng acid uric trong máu một thời gian dài; tuy nhiên, cũng có một số ngừơi chỉ có hội chứng tăng acid uric/máu mà không hề đưa đến viêm khớp gout. Hội chứng tăng acid uric và bệnh gout có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.

II. NGUỒN GỐC VÀ THẢI TRỪ ACID URIC

 

  1. Nguồn cung cấp và sản xuất
-         Ngoại sinh: ăn nhiều chất đạm gốc purin
-         Nội sinh: cơ thể tự tổng hợp từ acid nucléotid có sẵn.
  1. Đào thải:
-         Thận: chủ yếu (70%)
-         Ruột
III. CHẨN ĐOÁN (NewYork 1966)
Khi có 2/4 tiêu chuẩn sau:
1.      Viêm cấp 1 khớp  ≥ 2 lần
2.      Viêm khớp bàn-đốt ngón chân 1
3.      Tôphy
4.      Đáp ứng với điều trị colchicin

IV. NGUYÊN NHÂN:

A.     Gout nguyên phát (95%)

 

-         Di truyền (25%)
-         Hội chứng X (rối loạn chuyển hóa glucid- protid-lipid)
-         Nam giới- tuổi trung niên- tầng lớp được ưu đãi

 

B.     Gout thứ  phát:

 

BỆNH LÝ
THUỐC
-         Huyết học (++)
-         Thận (suy thận)(+++)
-         Ngộ độc (chì, beryllium)
-         Vảy nến
-         Suy giáp, cường cận giáp
-         Đái tháo đường nhiễm toan, đái tháo nhạt
-         Hội chứng Down
-         Ung thư phổi, cao huyết áp
-         Lợi tiểu (+++)
-         Thuốc lao (PZA, etham)
-         Nhóm salicylat
-         Corticoid + độc tế bào
-         Acid nicotinic
-         Levodopa

- Acid uric có thể tăng khi: nhịn đói, hoạt động thể lực nặng, ngộ độc rượu cấp.

V. MỘT SỐ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG NGOÀI KHỚP:

- Viêm mạch máu, bệnh lý tắc nghẽn động mạch thường gặp ở chi dưới
- Viêm màng ngoài tim
- Viêm kết mạc, viêm mống mắt
- Viêm tuyến mang tai
- Viêm thanh quản, viêm thực quản
- Viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, tình trạng priaprisme.
- Viêm màng não, hội chứng não cấp, hội chứng thần kinh ngoại biên do tophi chèn ép
VI. MỘT SỐ BỆNH LÝ GOUT THỨ PHÁT:
Gout thứ phát chiếm tỷ lệ thấp (5-10%) so với gout nguyên phát, nhưng thường nặng và khó điều trị hơn. Trong nhóm bệnh gout phụ nữ, gout thứ phát lại chiếm tỉ lệ khá cao. Nghiên cứu của Massé và De Sèze, với gần 500 bệnh nhân, nhận xét:
- Nam: gout thứ phát  là 6%
- Nữ: gout thứ phát xác định là 17%, nghi ngờ là 33%
Gout Do Suy Thận
Khi urê huyết vượt quá 1g/l thì hầu hết bệnh nhân đều có tình trạng tăng acid uric máu kèm theo. Tăng acid uric cũng rất thường gặp trong nhiễm độc thai nghén và ngộ độc chì, thông qua tổn thương ở cầu thận. Ngoài ra, người ta còn thấy hội chứng tăng acid uric máu ở bệnh nhân đái tháo nhạt do nguyên nhân thận. Một số trường hợp bệnh nhân đến khám bệnh vì viêm khớp gout, đồng thời phát hiện được tình trạng suy thận song song, đã đặt ra cho chúng ta vấn đề về chẩn đoán nguyên nhân, gout là nguyên nhân hay là hậu quả của suy thận. Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, tăng acid uric thường là nguyên nhân đối với nhóm nam giới và ngược lại, là hậu quả của suy thận, đối với nhóm nữ.
Gout do bệnh lý huyết học
Bệnh gout thứ phát do nguyên nhân huyết học có thể gặp ở bệnh lý tăng sinh tủy, đặc biệt khi đã có biến chứng suy thận, như:
- Đa u tủy, bệnh lý globulin
- Xơ tủy (myélosclérose)
- Bệnh bạch cầu cấp hay mãn dòng tủy hay dòng lympho.
- Thiếu máu bất sản
- Thiếu máu tán huyết mãn: thalassemie, depranocytoe, bệnh Minkowski Chauffard, thiếu máu Biermer.
Tăng acid uric trong nhóm bệnh huyết học chủ yếu do tăng sản xuất từ quá trình thoái hoá nucleoprotein của tế bào bệnh lý hay khi điều trị bằng các thuốc độc tế bào. Acid uric máu trong nhóm này thường rất cao, vượt quá 10mg%. Bệnh xuất hiện với tỷ lệ thấp nhưng diễn biến nặng.
Gout do vảy nến
Trong khi điều trị và theo dõi bệnh vảy nến, người ta nhận thấy acid uric máu trung bình của nhóm này cao hơn nhiều so với nhóm chứng. Hội chứng tăng acid uric máu của nhóm này thường có liên quan đến quá trình thoái hóa nucleiprotein do tổn thương tế bào biểu bì. Vì vậy, khi tổn thương da càng nhiều, càng tiến triển thì acid uric máu càng cao.
Gout do thuốc lợi tiểu
Cơ chế của hội chứng tăng acid uric do thuốc lợi tiểu là giảm thải trừ acid uric qua ống thận một cách gián tiếp thông qua việc làm giảm thể tích máu lưu thông dẫn đến tăng tái hấp thu acid uric. Sử dụng thuốc lợi tiểu làm nặng thêm bệnh gout sẵn có hoặc làm phát sinh bệnh. Điều trị bệnh, ngoài việc ngưng thuốc, nhóm thuốc tăng thải acid uric là chọn lựa phù hợp với cơ chế bệnh sinh, tuy nhiên allopurinol vẫn cho kết quả tốt.
Gout và bệnh tăng huyết áp
Người ta nhận thấy nồng độ acid uric máu của bệnh nhân tăng huyết áp thường cao hơn nhóm chứng. Các nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa bệnh tăng huyết áp và tăng acid uric/máu mang tính độc lập cho dù có hay không có suy thận và sử dụng thuốc lợi tiểu. Người ta cho rằng Noradrenalin và Angiotensin II có vai trò trong việc làm tăng acid uric máu thông qua cơ chế làm giảm bài tiết acid uric qua ống thận.
Gout và Suy giáp
Leeper và cộng sự nhận thấy acid uric máu trên bệnh nhân suy giáp thường cao hơn nhóm chứng, ngược lại cũng có một số tác giả nhận thấy nồng độ hormon tuyến giáp thấp ở bệnh nhân gout.
Bệnh Lesch-Nyhan:
Bệnh di truyền có liên quan đến khiếm khuyết gen ở nhiễm sắc thể X. Bất thường gen gây ra rối loạn hoàn toàn hay một phần hoạt động của men hypoxanthine-guanin phosphoribotransferase. Chỉ gặp ở bé trai vài tháng tuổi với chậm phát triển tâm thần-vận động, tăng trương lực, rối loạn vận động kiểu múa vờn và co quắp làm tổn thương môi, ngón tay v.v.. Bên cạnh đó là tình trạng tăng acid uric máu và gây nên viêm khớp gout khi bé khoảng 10 tuổi. Allopurinol có thể cho kết quả tốt đối với bệnh này.
Một số bệnh gout thứ phát khác
- Cường giáp: hiếm gặp hơn bệnh giả gout (tinh thể calci)
- Đái tháo đường nhiễm toan: Ở bệnh nhân đái tháo đường không nhiễm toan, hầu như nồng độ acid uric không có nhiều khác biệt. Ngưới ta cho rằng cơ chế làm tăng acid uric máu ở bệnh đái tháo đường nhiễm toan là việc giảm thải acid uric do ức chế acid betabutyric.

- Hội chứng Down

- Ung thư di căn

- Suy tuyến cận giáp

- Bệnh sarcoidose

- Ngộ độc beryllium và ngộ độc chì
- Thuốc: thuốc lao (pyrazinamide, ethambutol), Aspirin (liều thấp từ 50-150mg/ngày), thuốc ức chế miễn dịch (cyclophosphamide, aziathioprine)

 

VII. ĐIỀUTRỊ
A. Nguyên tắc điều trị
Cơn gout cấp, một khi đã được chẩn đoán, cho dù là gout nguyên phát hay thứ phát, cần được điều trị càng sớm càng tốt.
Mục tiêu điều trị:
  1. Chấm dứt quá trình viêm cấp (Kháng viêm không steroid, colchicin, corticoid)
  2. Phòng ngừa cơn cấp tái phát thường xuyên (colchicin)
  3. Phòng ngừa sự lắng đọng thêm cũng như làm giải quyết các tophi sẵn có với các biện pháp làm giảm acid uric trong máu. Ngoài ra, cũng cần điều trị các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và béo phì.
B. Điều trị triệu chứng:
- Colchicin: là thuốc kinh điển trong điều trị cơn gout cấp vì có hiệu quả rất ngoạn mục trên quá trình viêm khớp do tinh thể, đặc biệt là bệnh gout. Chính vì thế mà nó được dùng như một tiêu chuẩn chẩn đoán kể từ năm 1966. Colchicin tác động vào quá trình thực bào của tế bào đa nhân trung tính. Trong những ngày đầu, liều sử dụng thường không vượt quá 4mg/ngày đầu, giảm xuống dần và bắt đầu duy trì từ ngày thứ tư với liều 0,6-1mg/ngày tùy theo trường phái.
- Các thuốc kháng viêm không steroid: cũng có tác dụng kháng viêm giảm đau rất tốt trong viêm khớp cấp do gout. Người ta thường chọn lựa các loại tác dụng nhanh.
- Corticoid thường cho kết quả rất tuyệt vời trong những cơn gout cấp với liều 20-30mg prednison/ngày, tuy nhiên bệnh sẽ tái phát ngay khi ngưng thuốc, đưa đến những hậu quả xấu của việc lệ thuộc corticoid, vì thế hầu hết các tác giả không khuyên dùng. Corticoid được sử dụng trong trường hợp bệnh nhân có bệnh thận, gan hay tiêu hóa, không dung nạp được colchicin hay kháng viêm không steroid. Corticoid có thể dùng đường toàn thân nếu viêm đa khớp, dùng tại chỗ nếu là viêm một khớp và được khuyến cáo chỉ sử dụng trong đợt cấp và không kéo dài.
- Thuốc giảm đau thường được cho kèm theo kháng viêm như acetaminophen đơn thuần hay phối hợp.
- Cho khớp nghỉ ngơi và chọc hút dịch khớp trong trường hợp có tràn dịch khớp nhiều.
C. Điều trị cơ bản:
- Mục tiêu chính của điều trị cơ bản là giảm lượng acid uricmáu xuống ≤ 6mg%.
- Thuốc tăng thải acid uric qua đường niệu (benzbromarone, probenecid, urate oxydase), cần thận trọng vì có thể gây sỏi niệu. Vì thế, không nên dùng khi bệnh nhân có tiền căn sỏi niệu, hay có lượng urat/nước tiểu vượt quá 4,8 mmol/ngày.
- Thuốc ức chế tổng hợp acid uric (allopurinol, tisopurine)
- Một số thuốc mới đang nghiên cứu: Puricase, TMX-67.
- Nước rất quan trọng nhằm mục đích phòng ngừa ứ đọng tinh thể urat tại thận, nên bệnh nhân thường được khuyên uống nhiều nước, hoặc truyền dịch nhằm đảm bảo lượng nước tiểu trong ngày đạt đến 2000ml/24 giờ.

- Chế độ ăn:

·        Giảm tối đa thức ăn cung cấp nhiều đạm gốc purin

·        Giảm calorie
·        Giảm chất béo
- Kiềm hóa nước tiểu: nước pha bicarbonat (ít dùng), acetazolamid, nước suối Vichy, trái cây không chua…
- Phẫu thuật: chỉ định khi các tophi quá lớn ảnh hưởng đến chức năng hay chèn ép gây biến chứng.
VII. KẾT LUẬN:
Bệnh gout có chiều hướng tăng cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội, do đó cần được quan tâm để tránh những hậu quả vì biến chứng hầu như không hồi phục. Bên cạnh thể bệnh nguyên phát, còn có nhóm bệnh thứ phát, tuy không chiếm tỉ lệ đáng kể nhưng lại thường khó điều trị và diễn biến nặng nề. Gout thứ phát có vẻ chiếm tỉ lệ khá cao ở nhóm bệnh nhân nữ.
Trong điều trị cơn cấp, có một số thay đổi trong việc sử dụng, định liều và kết hợp thuốc. Thầy thuốc cần thận trọng nhất là khi chỉ định trên bệnh nhân lớn tuổi và có nhiều bệnh đi kèm, do vậy cũng uống đồng thời nhiều loại thuốc có thể làm ảnh hưởng diễn biến cũng như đáp ứng của bệnh. Trong một số trường hợp, để tránh những phản ứng có hại của một số thuốc điều trị gout, corticoid tại chỗ hay toàn thân có thể được chỉ định nhưng cần hết sức thận trọng và không dùng kéo dài để tránh tình trạng lệ thuộc corticoid.

Bệnh Gout nguyên phát

Gout là một dạng viêm khớp thể hiện qua những cơn đau, sưng khớp do acid uric trong máu tăng cao và gây lắng đọng tinh thể urat tại các ổ xương khớp và các mô khác trong cơ thể. Điểm đặc thù là đau nhức, sưng, đỏ, và nóng cũng như cứng (khó cử động) trong 1 hay nhiều khớp. Do đó bệnh nhân cần chuẩn đoán và điều trị gout sớm để tránh cơn đau tái phát và có thể gây ra thương tổn khớp, gân, và các mô khác.Vậy nguyên nhân bệnh gout là gì?

 

Nguyên nhân gây bệnh gout gồm 2 nhóm gout nguyên phát và gout thứ phát.

Bệnh gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt là bệnh gắn liền với các yếu tố di truyền và cơ địa, những bệnh nhân này có quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng nhiều, gây tăng acid uric.

Bệnh gout thứ phát xuất hiện do tăng acid uric máu sau một số bệnh khác. Khi tìm thấy nguyên nhân gây tăng acid uric máu và loại trừ được nguyên nhân thì bệnh khỏi. Gout thứ phát hay gặp thể viêm khớp cấp di chuyển hơn là thể ngón chân cái và hầu như không thấy thể đa khớp có u cục, thường có kèm theo sỏi thận, hoặc lắng đọng urat ở nhu mô thận. Trong bài trước chúng tôi đã trình bày rõ về nguyên nhân gây bệnh gout thứ phát, phần này chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày bệnh gout nguyên phát.

Bệnh gout nguyên phát là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu, chiếm 95 %. Bao gồm:
+Di truyền (25%): Gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt. Nếu bố hoặc mẹ bạn mắc bệnh gout, nguy cơ mắc bệnh tăng 20 %. Người Anh và người Mỹ da đen (không phải người châu Phi) có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn.
+ Hội chứng X (rối loạn chuyển hóa glucid- protid-lipid): Làm tăng tổng hợp purin nội sinh, dẫn đến tạo nhiều acid uric, và tăng acid uric huyết thanh, gây bệnh gout.
+Đối với gout nguyên phát, thường liên quan giới tính, bệnh nhân mắc bệnh gout chiếm 95% là nam giới và thường khởi phát tuổi trung niên.
Đối với bệnh gout thứ phát, nguyên nhân gây bệnh thường rõ ràng, trong khi đó bệnh gout nguyên phát lại khó xác định nguyên nhân cụ thể. Tuy nhiên, với tiến bộ y học hiện nay, bệnh gout hoàn toàn kiểm soát bằng chế độ ăn và sinh hoạt hợp lý đồng thời điều trị thuốc giảm acid uric trong máu.

 

benhvathuoc.com

-------------------------------------------------@ Tin khác @-------------------------------------------------

Thuộc chuyên mục: Bệnh và chẩn đoán

10 Responses to “Bệnh gout”

  1. 02/07/2011 at 11:24 am #

    Bệnh gout đến từ đâu?

    Acide urique là thủ phạm

    Cụ thể ở bệnh này là lắng tụ tinh thể monosodium urate ở bao khớp, gân do tình trạng acide urique tăng cao trong máu… gây ra các đợt viêm khớp ngoại biên tức là viêm các khớp chân tay đặc biệt hay xảy ra ở ngón chân cái.

    Tình trạng viêm này là do các con bạch cầu được ví như các lính chiến đấu trong cơ thể đi dọn dẹp các tinh thể này.

    Tình trạng viêm này có thể tái đi tái lại nhiều lần gây ra biến dạng khớp nếu không điều trị. Không phải tất cà những người có acide urique cao trong máu là bị cơn gout, tuy nhiên nếu nồng độ acide urique trong máu cao và kéo dài càng lâu thì càng có nguy cơ bị gout.

    Thế tại sao lại bị tăng acide urique trong máu? Đó là do thận không thải được acide urique hoặc do cơ thể tạo ra quá nhiều (do ăn uống, do bịnh lý như ung thư máu dạng lim phôm, thiếu máu tán huyết, vảy nến.. ) hoặc do bất thường trong chu trình tạo ra acide này.

    Bệnh sẽ biểu hiện bằng các cơn đau ở các khớp, khớp có thể bị sưng to đỏ có thể có nước trong khớp đặc biệt là ngón chân cái (khớp bàn ngón) hay bị nhất, tuy nhiên các khớp khác đều có thể bị.Cơn đau rất nặng được mô tả dữ dội và nhiều khi bệnh nhân không dám đắp mền vì chỉ cần chạm nhẹ vào cũng gây ra cơn đau dữ dội.

    Cơn gout hay xảy ra sau 1 chấn thương nhẹ, sau bữa nhậu linh đình. Cơn gout có thể xảy ra vài ngày hoặc vài tuần và có thể tự bớt, nhưng nếu không điều trị những cơn này sẽ xuất hiện thường hơn và gây ra biến dạng hủy khớp gây tàn phế.

    Làm sao để chẩn đoán bệnh gout?

    - Các BS sẽ cho bệnh nhân đi thử nồng độ acide urique trong máu và tùy theo thông số của mỗi loại máy thử mà cho các con số khác nhau, bình thường nhỏ hơn 7mg/dL.Tuy nhiên cơn gút khá đặc biet nên đôi khi có thể chẩn đoán qua hỏi bệnh sử và khám bệnh nhân vì nồng độ acide urique trong máu cao giúp chẩn đoán nhưng không chuyên biệt.

    Nếu lấy dịch khớp đem soi dưới kình hiển vi để thấy các tinh thể urate hình kim là chắc chắn nhất nhưng ít được làm vì nhiều lí do khác nhau.

    - Chụp x ray khớp cho thấy hình ảnh tổn thương xương dưới sụn.

    Bệnh tiến triển ra sao và có thể chữa khỏi hay không?

    Thường thì cơn gout có thể bị đẩy lui bằng các thuốc hiện có và nếu bệnh nhân chịu theo cuộc điều trị và chấp nhận ăn kiêng thì có thể ngăn chặn được bệnh nhưng nên nhớ rằng đây là loại bệnh không thể chữa dứt, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.

    Nếu không điều trị hoặc để cơn gout xảy ra nhiều lần sẽ gây hủy khớp gây tàn phế, lúc đó cần đến các phẫu thuật tái tạo lại khớp. Khoảng 20 % bệnh nhân bị gout bị sỏi thận do chính tinh thể urate lắng tụ gây ra sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây suy chức năng thận, nhiễm trùng tiểu… có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng. một số bệnh nhân có các cục ở dưới da như vùng khuỷu, mắt cá .. gọi là cục tophi là do lắng tụ tinh thể urate khi bể ra làm chảy ra 1 chất bột trắng giống như phấn.

    Vai trò của nội soi khớp là làm sạch khớp, cắt bớt bao hoạt dịch của khớp khi bị viêm nhiều lần gây dày, hạn chế vận động của khớp. Một khi khớp bị hư hoàn toàn thì có thể thay khớp bằng khớp nhân tạo.

  2. 02/07/2011 at 11:24 am #

    Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout

    I. Những thức ăn và đồ uống không có lợi cho người bị bệnh gout :

    1. Thức ăn :

    Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có gốc Purin như : Hải sản, các loại thịt có màu đỏ như : Thịt trâu, bò, ngựa, thịt dê, thịt thú rừng…; Phủ tạng động vật như : Lưỡi, lòng, tim, gan, thận, óc…;Trứng gia cầm nói chung, nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng vịt lộn…

    Giảm bớt những thực phẩm giàu đạm khác trong khẩu phần ăn như :

    + Đạm động vật nói chung như: Thịt lợn, thịt chó, thịt gà, thịt vịt…;Cá và các loại thủy sản như: lươn, ếch…

    + Đạm thực vật: Đậu hạt nói chung nhất là các loại đậu ăn cả hạt như : đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh…,Các chế phẩm từ đậu nành như : Đậu phụ, sữa đầu nành, tào phớ… nhìn chung ít làm tăng acid uric hơn các loại đậu chưa chế biến.

    Kiêng tất cả các loại thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh như : Măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng) vì sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể.

    Giảm các thực phẩm giàu chất béo no như : Mỡ, da động vật, thức ăn chiên, quay, thực phẩm chế biến với các chất béo no như: Mì tôm, thức ăn nhanh.

    Bệnh nhân có tầm vóc trung bình 50 kg không nên ăn quá 100g thực phẩm giàu đạm mỗi ngày

    Đồ uống :

    Tuyệt đối không uống bất kỳ một dạng chất cồn nào như : Rượu, bia, cơm rượu, nếp than…

    Hạn chế đồ uống có gaz, nước uống ngọt nhiều đường vì sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, một trong những yếu tố tăng nặng bệnh gút.

    Giảm các đồ uống có tính toan như : nước cam, chanh, nước trái cây giàu vitamin C vì làm tăng nguy cơ kết tinh urate ở ống thận, tăng nguy cơ sỏi thận.

    II. Những thức ăn, đồ uống có lợi cho người bị bệnh gút:

    1,Thức ăn :

    Các thực phẩm giàu chất xơ nói chung như dưa leo, củ sắn, cà chua…giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm thoái hoái biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric.

    2,Đồ uống :

    Nên uống nhiều nước (tối thiểu 2,5 đến 3 lít nước mỗi ngày).

    Nên uống nước khoáng không ga có độ kiềm cao giúp tăng đào thải acid uric và hạn chế sự kết tinh urate tại ống thận, làm giảm nguy cơ sỏi thận.

  3. 02/07/2011 at 11:28 am #

    Chỉ số acid uric & mức nguy hiểm của bệnh gút

    Chỉ số acid uric là chỉ số quyết định trong việc chuẩn đoán một bệnh nhân có bị bệnh gút hay không và mức độ nguy hiểm của bệnh đang ở giai đoạn nào. Khi bạn đã bị mắc bệnh gút hoặc bắt đầu điều trị bệnh gút thì phải thường xuyên đến bác sỹ để kiểm tra chỉ số acid uric và các mức độ ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe. Chỉ số acid uric phải là một con số chính xác không phải là một kết quả định tính như cao, bình thường, hay thấp. Bởi vì mỗi mức chỉ số acid uric mô tả tình trạng bệnh của bệnh nhân gút đang ở mức độ nguy hiểm nào. Tuy nhiên mỗi cơ sở khám chữa bệnh đều dùng những loại máy của riêng mình và cho kết quả ở những đơn vị đo lường khác nhau khiến cho các bệnh nhân không hiểu để theo dõi. Nên chúng tôi xin liệt kê những thông tin về chỉ số acid uric và tình trạng bệnh liên quan tới chỉ số để các bạn tiện tham khảo và theo dõi.

    CHỈ SỐ ACID URIC VÀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA BỆNH GÚT
    Mg/dl Mol/l Mmol/l Lưu ý
    <6 <350 <0,35 Tốt: ở mức độ này sẽ ko cho hình thành các tinh thể urat và giải phóng các tinh thể urat lắng đọng ở khớp

    6-7 350-400 0,35- 0,4 Cảnh Báo: Xuất hiện một vài triệu trứng như tê, ngứa và đỏ da, hoặc các triệu trứng thông thường của bệnh gút
    >7 >400 > 0,4 Tình trạng xấu: Các tinh thể urat hình thành nhiều hơn, các tinh thể urat lắng đọng không được giải phóng tạo nên các cục tophy. Tình trạng ngày càng xấu.

    Chúng ta nên tới các cơ sở khám chữa bệnh có thiết bị tốt để kiểm soát acid uric trong máu. Các thiết bị các nhân, cầm tay để kiểm tra chỉ số acid uric chỉ cho các bạn một con số ước lượng chứ không phải một con số hoàn toàn chính xác cũng như thông báo cho bạn biết tình trạng của bệnh gút.

  4. 02/07/2011 at 11:29 am #

    Dấu hiệu nhận biết bệnh gout

    Bệnh gout khởi phát cấp tính, thường vào nửa đêm gần sáng, với tính chất sưng tấy, nóng, đỏ mọng, đau dữ dội và đột ngột ở một khớp (không đối xứng). Thường gặp nhất ở ngón chân cái, kế đó là khớp bàn chân, khớp cổ chân, các ngón chân khác, khớp gối, bàn tay và các khớp và các vùng gần khớp khác.

    Có thể có kèm một số triệu chứng toàn thân như sốt cao, lạnh run, ớn lạnh…Thậm chí, một số trường hợp gây nhức đầu, ói mửa, cổ gượng (do phản ứng màng não).

    Hiện tượng viêm cấp tuy rất rầm rộ nhưng cũng chỉ kéo dài 5-10 ngày, rồi khỏi toàn thân, không để lại di chứng gì tại khớp. Nếu được dùng thuốc sớm, đúng thuốc, đúng liều lượng bệnh sẽ hết rất nhanh (dưới 5 ngày).

    Bệnh tái phát từng đợt với xu hướng càng ngày càng nhiều đợt viêm hơn, các đợt viêm khớp ngày càng dài ra, càng lâu khỏi hơn, càng có nhiều khớp bị viêm hơn…

    Trường hợp của bác có thể là thoái hóa khớp, có các triệu chứng liên quan đến gout nhưng không hoàn toàn đã mắc bệnh gout. Bác nên khám tổng thể (chụp X-quang, xét nghiệm máu, chỉ số acid uric trong máu…) để xác định nguyên nhân bệnh, chuẩn đoán và theo dõi tiến triển bệnh.

  5. 02/07/2011 at 11:29 am #

    Bệnh gout uống bia rượu được không?

    Chỉ số acid uric 460 mmol/l của bạn tương đối cao, do đó tinh thể urat hình thành nhiều hơn và lắng đọng tại các ổ khớp gây ra các cơn gout cấp. Nếu bạn không điều trị giảm acid uric máu sớm thì các cơn gout cấp thường xuyên xảy ra và lâu ngày sẽ dẫn đến bệnh khớp mãn tính, đồng thời xuất hiện hạt tophi.

    Bạn nên điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp, đồng thời dùng thuốc giảm acid uric Hoàng Tiên Đan càng sớm càng tốt.

    Bia rượu làm trầm trọng bệnh gout thêm, bạn nên hạn chế một cách tối đa. Trong trường hợp của bạn, có thể do đặc thù công việc phải tiếp khách nhiều, bạn nên uống lượng ít hơn, đồng thời dùng kết hợp Hoàng Tiên Đan và Trà Hoàng Tiên Đan hàng ngày.

    Ngoài ra, bạn cũng không nên ăn thức ăn chứa nhiều purine như: phủ tạng động vật: tim, gan, thận, lá lách, óc…, hột vịt, gà lộn, trứng cá, cá trích, cá đối, cá mòi. Hạn chế thức ăn nhiều đạm: Hải sản, thịt trâu, bò, ngựa, dê, thịt thú rừng, tôm , cua…Mỗi tháng nên ăn khoảng 1-2 lần, mỗi lần không nên quá 100 g. Ăn ít các loại đậu hạt, măng tây, mỡ động vật và đường.

    Dùng nhiều: Các loại rau xanh, trái cây tươi, các loại ngũ cốc. Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.

  6. 02/07/2011 at 11:30 am #

    Bệnh gút những ai đễ mắc phải?

    Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh là 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có một người mắc bệnh Gout. Bệnh thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp, dân gian thường gọi là “tốt tướng”. Phụ nữ rất ít bị bệnh Gout, nếu bị thường là lứa tuổi trên 60.

    Thường nhất là bắt đầu vào cuối tuổi 30 và đầu 40 của cuộc đời, với những người có cuộc sống vật chất sung túc, dư thừa dinh dưỡng.

    Vì hai đặc điểm này mà các vị giám đốc trẻ, hay những người đàn ông thành đạt nói chung nên lưu tâm hơn về căn bệnh này.

    Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa, bệnh nhân Gout thường thừa cân, thường mắc thêm một hay nhiều bệnh như: Xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ, tiểu đường, rối loạn lipid máu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch não…Nói cách khác, các bệnh nhân bị cách bệnh nói trên rất dễ bị Gout.

  7. 02/07/2011 at 11:39 am #

    4 không cho người bị bệnh gút

    1. Không ăn thức ăn nhiều purin trong giai đoạn tiến triển: Chế độ ăn hợp lý của người bị bệnh gút là nhằm giảm lượng acid uric để không bị tích lũy thành tinh thể ở các khớp và các tổ chức mềm. Hết sức hạn chế ăn phủ tạng động vật như gan, lòng, cật, tim, tiết; cá trích, cá mòi, trứng cá; thịt đỏ, thịt muối; phô mai; cua; tôm. Một số thực phẩm thực vật cũng có hàm lượng purin tương đối cao như nấm, đậu hạt các loại.

    2. Không dùng thức uống có cồn và chất kích thích: Các nghiên cứu về khẩu phần ăn uống đều khuyên người bị gút hoặc tăng acid uric máu đơn thuần phải kiêng rượu, bia hơi, vang trắng, sâm banh, bia nâu. Tránh ăn những chất kích thích như ớt, cà phê… Nên tránh các buổi liên hoan tiệc tùng.4 khong trong an uong cua nguoi bi gut

    3. Không quên uống nhiều nước: Uống nhiều nước sẽ làm tăng lượng nước tiểu, sẽ đào thải được nhiều acid uric ra ngoài. Nên uống khoảng 2-3 lít/ngày khi đang uống thuốc trị bệnh. Tốt nhất nên uống các loại nước khoáng có nhiều bicarbonat. Nếu không, có thể uống dung dịch natri bicarbonat 3% để kiểm soát huyết thanh, giúp việc đào thải acid uric thuận lợi hơn.

    4. Không uống các thuốc làm tăng acid uric máu: Đó là các thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (hypothiazide), nhóm giảm đau, hạ sốt salicilat (aspirin). Tuyệt đối không dùng các thuốc nhóm corticoid (prednisolon, dexamethason…) vì chúng có thể làm giảm đau nhanh nhưng lại làm tăng acid uric máu, đẩy nhanh bệnh sang thể mạn tính.

    Ngoài chế độ ăn uống, người bị bệnh gút cũng cần tránh các nguy cơ có thể làm xuất hiện bệnh như: làm việc quá sức, nhiễm lạnh, đi giày quá chật, bị nhiễm khuẩn cấp tính hoặc phẫu thuật.

    Gút được xếp vào bệnh của thời đại văn minh. Nó thường gây đau đớn dai dẳng cho người bệnh và là sự báo hiệu nguy cơ bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh thận. Bệnh gút có thể diễn biến tốt nếu dùng đúng các thuốc điều trị và tuân thủ chế độ ăn hợp lý.

  8. 02/07/2011 at 11:39 am #

    Những thực phẩm bệnh nhân gout nên biết cách sử dụng.

    Để làm giảm acid uric máu cần hạn chế ăn các thức ăn chứa nhiều purin (chứa nhiều acid nhân tế bào) như tim, gan, thận, óc, trứng lộn, cá chích, cá đối. Đây là những loại thức ăn giàu đạm.
    Tuy nhiên, chất đạm là một thành phần quan trọng trong dinh dưỡng của mọi lứa tuổi đặc biệt ở người có tuổi. Vì vậy, không thể loại bỏ hoàn toàn chất đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày nhưng cũng đừng vượt quá nhu cầu thiết yếu về đạm của cơ thể.

    Ở người lớn nhu cầu về đạm là 1 g/kg trọng lượng/ngày (nhu cầu này sẽ tăng trong một số trạng thái cơ thể đặc biệt: có thai, gắng sức, bị bệnh.), điều này có nghĩa nam giới 60 kg cần 60 g đạm mỗi ngày.

    Các loại thức ăn: tôm, cua, sò, ốc, hến, ếch, cá nước ngọt, thịt chim, trứng, đạm thực vật, cá biển nói chung. đều không cần kiêng tuyệt đối. Miễn sao, số lượng đạm từ các thức ăn đó không vượt quá nhu cầu cần thiết hàng ngày.

    Không uống rượu, hạn chế uống bia, không ăn uống quá mức.

    Chân giò heo, là loại thức ăn chứa nhiều mỡ (lipid), không có lợi cho sức khỏe người có tuổi, không nên ăn thường xuyên, đặc biệt khi người bệnh có kèm rối loạn các thành phần của lipid máu (Cholesterol, Triglyceride, b Lipoproteine, HDL-C, LDL-C, VLDL-C.)

    Nên tăng cường ăn rau xanh, uống nhiều nước, uống các loại nước khoáng hơi kiềm (bicarbonate) vì sẽ làm kiềm hóa nước tiểu và tăng mức lọc cầu thận, thuận lợi cho việc thải bớt acid uric ra ngoài.
    Sau đây là bảng lượng đạm trong từng loại thực phẩm. Bệnh nhân gout có thể tham khảo để đưa ra khẩu phần ăn thích hợp.

    Bảng dưới đây là lượng đạm có trong một số thực phẩm thường dùng

    Thực phẩm (100 g)

    Lượng đạm (Gam)

    Sữa bò tươi

    3,9

    Sữa đặc có đường

    8,1

    Sữa chua

    3,7

    Sữa đậu nành

    3,9

    Phomat

    10-20

    Trứng gà tươi

    11,6

    Trứng vịt tươi

    14,2

    Thịt bò nạc

    20

    Thịt trâu nạc

    21,9

    Thịt thỏ nạc

    21,5

    Thịt lợn nạc

    19

    Thịt gà nạc

    22,4

    Thịt vịt nạc

    17,8

    Thịt ngỗng nạc

    18,4

    Thịt ếch

    20,0

    Thịt cá lóc

    18,2

    Thịt cá chép

    16,5

    Thịt cá trê

    16,5

    Thịt lươn

    20,0

    Thịt tôm

    18,4

    Thịt cua biển

    17,5

    Đậu hũ

    10,9

    Đậu phọng (lạc)

    27,5

    Đậu nành

    34

    Đậu xanh

    23,4

    Mè (vừng)

    20,1

    Không dùng:

    Không uống nhiều rượu mạnh. Không ăn các thức ăn chứa nhiều purine như: phủ tạng động vật: tim, gan, thận, lá lách, óc…, hột vịt, gà lộn, trứng cá, cá trích, cá đối, cá mòi.

    Dùng hạn chế

    Hạn chế protid (<1g protein/kg/ ngày tương đương < 200g thịt nạc mỗi ngày).
    Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) đồ biển (tôm, cua…).
    Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) các loại đậu hạt, măng tây
    Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) chocolate, cacao, trà, cà phê

    Dùng nhiều

    Các loại rau xanh, trái cây tươi.
    Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.
    Các loại ngũ cốc.

  9. 02/07/2011 at 11:40 am #

    Bệnh gout nên ăn loại trái cây nào?

    Khóm (thơm)

    Khóm giúp làm giảm đau và ngăn chặn cơn viêm khớp cấp do gút. Tác dụng của khóm là do trong nó có một men được gọi là bromelain. Men này cũng làm giảm sưng. Khóm cũng chứa nhiều kali, acid folic. Kali giúp thải acid uric ra khỏi cơ thể. Acid folic là vitamin nhóm B, giúp sửa chữa các sẹo của mô bị tổn thương trong cơn gút cấp. Với người bị gút, khóm có thể được sử dụng như thực phẩm bổ sung. Tuy nhiên, bạn cần cẩn trọng nếu đang bị viêm loét dạ dày tá tràng. Cũng vậy, cần tham khảo ý kiến bác sĩ khi bạn đang sử dụng dài hạn aspirin, clopidogrel hay warfarin.

    Dâu tây

    Dâu tây giúp làm giảm tình trạng viêm do nó có chứa nhiều vitamin C so với các trái cây khác. Dâu tây cũng có chứa chất quecritin giúp làm giảm sưng, đặc biệt tốt khi dùng cùng với khóm.

    Blueberry (việt quất)

    Tiếng Việt gọi là việt quất, có nhiều ở xứ lạnh như Bắc Mỹ, châu Âu, Úc, New Zealand. Blueberry là thứ trái cây tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho người bị gút. Blueberry có hoạt tính kháng viêm là do có hoạt chất được gọi là anthocyanin. Nó còn có hoạt tính làm giảm acid uric máu.Không chỉ giúp ích trong gút, anthocyanin còn có hoạt tính chống oxy hóa có lợi ích cho sức khỏe tim mạch, phòng ngừa ung thư.

    Nho

    Nho cũng có chứa một lượng lớn anthocyanin. Màu tím thẫm hay xanh đậm của nho là do nhóm hóa chất này.

    Chuối, bưởi

    Chuối, bưởi có rất nhiều kali, một chất quan trọng trong việc điều trị gút. Kali cũng giúp thận thải tinh thể urate qua nước tiểu. Bên cạnh đó, bưởi cũng có nhiều vitamin C giúp làm giảm tình trạng viêm.

  10. 07/07/2011 at 2:06 pm #

    Ăn uống ra sao để giảm các triệu chứng của bệnh viêm khớp

    Theo thống-kê tại Gia-nã-đại cứ bảy người lại có hơn một người bị bệnh viêm khớp (arthtitis) và số phụ nữ bị bệnh này gấp đôi số đàn ông.
    Trên phương diện sinh-hoá, bệnh này gây nên bởi sự tích tụ của các hợp-chất elcosanoide nơi các khớp xương ( cổ tay, ngón tay, háng,…).Các chất elcasanoide thuộc nhóm các hợp-chất có liên quan đến hệ miễn-dịch gồm có các chất prostaglandine, thromboxane và leucotiène. Khi các tác-nhân gây nhiểm khuẩn ( vi-khuẩn , vi-rút) xâm nhập vào một bộ-phận cơ-thể nào đó thì bộ-phận sẽ phản ứng bằng cách tiết ra các chất elcosanoide gây nên một chuổi phản-ứng như viêm, sốt , phù… Dưới ảnh hưởng mạn-tính của các chất này, các sụn và xương của cơ thể chúng ta sẽ bị hủy- hoại dần.
    Theo tài liệu đọc trên trang web http://www.passeportsante.net của nhà dinh-dưỡng-học Hélène Barbeau thì nguời ta có thể giảm thiểu các triệu chứng của căn bệnh ( sưng, cứng khớp, đau khớp) cho một số người bị bệnh viêm khớp nhờ vào chế-độ ăn uống (diet)
    Trước tiên một thực-chế không có bất cứ sản phẩm gốc động- vật nào ( thịt, bơ sữa, gia cầm…) hoặc chỉ không có thịt mà thôi có thể giảm các triệu chứng của chứng viêm khớp vì phong thấp ( arthrite rhumatoide). Kiêng ăn hoăc ăn chay cũng có hiệu-quả tốt.
    Nên bớt tiêu-thụ các acid béo omega-6 (dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu hạt nho, dầu bắp) và thay thế bằng các chất béo omega-3. Thât vây theo một số nghiên cứu thì mỗi ngày chỉ cần dùng 3g acid béo omega-3 thì về lâu dài có thể giảm một số triệu chứng của bệnh viêm khớp vì phong thấp . muốn vậy mổi ngày chỉ cấn ăn 150 g cá ( cá hồi, cá hưong nâu, cá mòi, cá thu) hoặc uống thêm dầu cá.
    Ngoài ra nếu béo qúa thì giảm cân nặng dù khiêm tốn cũng giúp giảm bớt các triệu chứngcủa viêm khớp.
    Các thức ăn tốt cho sức khoẻ
    Nhiều thức ăn gốc thực vật có tính-chất chống viêm như củ cải đỏ (radish), dầu ô-liu siêu tinh khiết (extra virgin olive oil) và trái hồ đào (walnut).
    radish walnut
    Một số thức ăn khác như các sản phẩm lên men (yogourt, kefir, Rejuvelac, miso, sauerkraut), rau, ngũ cốc nguyên hột cũng làm giảm viêm vì cải-thiện hệ miễn dịch bao quanh ống tiêu hóa.
    Bệnh viêm khớp cũng có thể là do acid có dư trong cơ thể.Trong trường hợp này các triệu-chứng có thễ giảm nếu bớt tiêu thụ những thực phẩm có tính acid như cà-fê, xô-cô-la, trà đen, nước trái cây, nước chanh, cà chua, cải xà-lách-son, các trái cây chua, và dấm.

Viết phản hồi