Bệnh đột quỵ

Có 4.114 lượt xem

ĐỘT QUỴ

{tab=Đột quỵ não}

I. ĐẠI CƯƠNG

1. Định nghĩa và ý nghĩa của đột quỵ não

Đột quỵ não là tình trạng bệnh lý thần kinh cấp tính, nặng nề xảy ra đột ngột, có thể gây nên các triệu chứng như liệt nửa người, rối loạn cảm giác nưă người, nói khó, liệt nửa mặt, hôn mê…, là một trong những nỗi ám ảnh thường xuyên của mọi lứa tuổi, nhất là lứa tuổi trên 50. Nếu bệnh  không được phát hiện sớm và tiến hành sử trí, cấp cứu kịp thời thì tỷ lệ bệnh nhân tử vong và bệnh nhân có di chứng nặng nề sẽ rất cao. Bản thân người bệnh cùng các chi phí cho việc chăm sóc, điều trị bệnh sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và cho xã hội. Vấn đề đựơc đặt ra và có liên quan tới rất nhiều người là quản lý, chăm sóc, điều trị và dự phòng đột quỵ não như thế nào cho đạt hiệu qủa cao.

2. Quản lý đột quỵ não

Quá trình quản lý bệnh nhân đột quỵ có thể chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn trước bệnh viện, giai đoạn trong bệnh viện và giai đoạn sau bệnh viện, trong đó ở giai đoạn trước và sau bệnh viện, vấn đề quản lý, chăm sóc bệnh nhân thuộc về gia đình và bản thân người bệnh là chính (Bảng 1).

Bảng 1. Các giai đoạn quản lý đột quỵ: đối tượng liên quan – mục đích –  công việc.

Giai đoạn  quản

 

 

Giai đoạn chưa bị đột quỵ não

Giai đoạn bị đột quỵ não
Giai đoạn

Trước bệnh viện

Giai đoạn trong

bệnh viện

Giai đoạn sau bệnh viện
Đối tượng liên quan Bản thân bệnh nhân và gia đình – Gia đình bệnh nhân,

– Y tế địa phương.

– Nhân viên y tế cấp cứu vận chuyển bệnh nhân.

Nhân viên y tế chuyên khoa trong bệnh viện Gia đình và bản thân bệnh nhân
Công việc cần làm Dự phòng đột quỵ cấp I:

Dự phòng và điều trị các yếu tố nguy cơ nếu có.

– Bất động bệnh nhân, duy trì chức năng sống (tim, thở…).

– Bắt đầu điều trị tích cực, định hướng.

– Tổ chức chẩn đoán nhanh, chup CT sọ não càng sớm càng tốt.

– Bát đầu điều trị chuyên khoa: điều trị bệnh sinh, điều trị đặc hiệu.

Điều trị dự phòng cấp II.
Mục tiêu Loại trừ các yếu tố nguy cơ, ngăn ngừa bệnh. Chuyển bệnh nhân tới bệnh viện kịp thời như có thể. – Chẩn đoán nhanh, bắt đầu điều trị trong thời gian cửa sổ điều trị (đối với đột quỵ thiếu máu não).

– Chẩn đoán nhanh bắt đầu điều trị kịp thời đối với đột quỵ não chảy máu.

Chống tái phát
Tiêu chí hành động Tự giác, triệt để. Khẩn trương hành động :

“Thời gian là não”

Tự giác, triệt để.

Trong thực tế ta thấy rằng, khi bệnh nhân bị đột quỵ não thì đối tượng đầu tiên khởi động chuỗi dây truyền công việc cấp cứu sử trí cho bệnh nhân sẽ chính là người nhà bệnh nhân chứ không phải ai khác. Như vậy ta thấy vai trò của gia đình bệnh nhân là rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành, baị trong việc cấp cứu điều trị bệnh nhân đột quỵ. Nếu bệnh nhân được đưa đến bệnh viện sớm thì cơ hội điều trị bệnh tốt hơn, liên lượng thuận lợi, nếu bệnh nhân được đưa đến muộn, cơ hội cứu chữa bệnh nhân sẽ eo hẹp hơn, thậm chí thầy thuốc không thể can thiệp tích cực, không thể cứu giúp gì cho người bệnh, bệnh nhân tử vong ngay trong tay thầy thuốc. Thế nhưng hầu như  tất cả người nhà bệnh nhân đều không phải là nhân viên y tế, những kiến thức của họ về đột quỵ não không đủ để nhận biết ra bệnh và càng không thể đầy đủ để quyết định có nên đưa bệnh nhân đi bệnh viện không, nếu có thì bao giờ đưa đi cho kịp thời. Từ đó ta thấy rằng người nhà bệnh nhân cần được trang bị những kiến thức, những kinh nghiệm nhất định về đột qụy não cùng những lời tư vấn để họ có thể chủ động nhận biết được đột quỵ não và quyết định đưa bệnh nhân tới bệnh viện cho kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho thầy thuốc can thiệp cứu giúp bệnh nhân được tích cực hơn.

Có nhiều triệu chứng trong giai đoạn tiền triệu và giai đoạn khởi phát đột quỵ đã được khuyến cáo, các tác giả trong và ngoài nước đều thấy rằng các triệu chứng này có giái trị dự báo dương tính tương đối cao và có thể phổ biến rộng rãi cho cộng đồng nhằm giúp chó mọi người tham gia quản lý đột quỵ được tốt hơn.

II. CÁC BIỂU HIỆN SỚM CỦA ĐỘT QỤY NÃO

1. Các triệu chứng sớm:

Bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều các triệu chứng sau:

– Tê nửa người, một tay hoặc nửa mặt.

– Yếu (hoặc động tác vụng về, cảm giác nặng nề) nửa người, một tay hoặc nửa mặt.

– Nói khó hoặc khó hiểu lời nói.

– Nhìn mờ hoặc mù (một hoặc cả hai mắt).

– Chóng mặt hoặc mất thăng bằng.

– Đau đầu dữ dội một cách bất thường (có thể kèm theo nôn, buồn nôn ).

2. Đặc điểm xuất hiện và tiến triển của các triệu chứng

– Các triệu chứng nói trên xuất hiện đột ngột (trong vòng vài giây tới vài chục phút). Đây là đặc điểm rất quan trọng của đột quỵ não.

– Các triệu chứng có thể nặng tối đa ngay từ đầu và không tiến triển nặng nề thêm (thường là biểu hiện của đột quỵ não chảy máu), hoặc các triệu chứng đã xuất hiện sẽ nặng dần lên trong các phút, các giờ tiếp theo và có các triệu chứng mới xuất hiện thêm (thường là biểu hiện của đột quỵ thiếu máu não).

3. Hoàn cảnh xuất hiện của bệnh

Các triệu chứng trên xuất hiện liên quan với một hoặc nhiều hoàn cảnh sau:

– Trong hoặc sau khi uống rựơu, bia.

– Thay đổi thời tiết, khí hậu.

– Căng thẳng tinh thần hoặc thể lực.

– Tắm nóng hoặc lạnh.

– Thời gian khi đêm về sáng.

III. XỬ TRÍ

1. Tại gia đình bệnh nhân

Khi người nhà phát hiện thấy bệnh nhân có biểu hiện của các triệu chứng với các đặc điểm xuất hiện và hoàn cảnh xuất hiện như trên, thì người nhà bệnh nhân nên và không nên làm các công việc sau:

Nên:

– Bất động, theo dõi bệnh nhân, sơ cứu duy trì nhịp tim và nhịp thở khi cần thiết.

– Vận chuyển bệnh nhân càng nhanh càng tốt tới một trung tâm cấp cứu gần nhất, tốt nhất là gọi xe cấp cứu chuyên dụng hoặc mời một bác sĩ sử trí và hộ tống vận chuyển.

– Chuẩn bị tâm lý cho mọi người trong gia đình, chủ động đón nhận một thời kỳ chăm sóc, điều trị bệnh nhân lâu dài, vất vả.

Không nên:

– Để bệnh nhân tại nhà chờ đợi sự thuyên giảm tự nhiên của bệnh, hoặc cho rằng bệnh nhân tuổi đã cao không cần đưa đi bệnh viện cứu chữa.

– Trì hoãn để đưa bệnh nhân đi khám trong hoàn cảnh tiện lợi (khám theo tuyến, chờ cho đầy đủ các thành viên gia đình, chờ cho trời sáng mới đưa bệnh nhân đi bệnh viện…. )

– Tự sử dụng các lọai thuốc cấp cứu điều trị mà không có đơn của bác sỹ.

2. Tại bệnh viện

Khi bệnh nhân đã được chuyển kịp thời tới bệnh viện bác sỹ bệnh viện cần khẩn trương tiến hành ngay các công việc sau:

– Khám bệnh nhân, cho chỉ định chụp cắt lớp vi tính sọ não.

– Chỉ định ngay các biện pháp điều trị chung cho các bệnh nhân đột quỵ não. Chỉ định điều trị theo thể bệnh ngay sau khi có chẩn đoán quyết định

– Làm các xét nghiêm cần thiết.

{tab=Đột quỵ tim}

Bệnh này xẩy ra khi một động mạch mang máu tới nuôi bắp thịt tim bị nghẽn. Nạn nhân thường bị đau ngực kéo dài ít nhất là 15 phút. Tuy nhiên, họ cũng có thể không có triệu chứng gì cả.
Rất nhiều nạn nhân đột quỵ tim có những triệu chứng “báo động” nhiều giờ, nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần trước khi cơn đột quỵ xuất hiện. Triệu chứng báo động thông thường nhất là đau ngực mỗi khi làm việc nặng và hết đau khi nằm nghỉ.
Khi đang bị cơn đột quỵ, nạn nhân thường có những triệu chứng như sau:
-Cảm thấy có sức nặng đè trong ngực làm khó chịu, có cảm giác đầy trong ngực, hay cảm thấy đau thắt ngay giữa ngực, kéo dài nhiều phút.
-Cảm giác đau này chạy tới vai, cổ hay cánh tay.
-Thấy choáng váng, muốn xỉu, ra mồ hôi, buồn nôn hay thở dốc.

Để chẩn đoán phân biệt 2 nguyên nhân này người ta dung CT .Khi bệnh nhân có dấu hiệu đột quỵ phải lập tức đưa ngay đến BV vì 6 giờ đầu tiên là 6 giờ vàng BV CT bệnh nhân ,nếu biết chắc là không phải do xuất huyết não ,họ sẽ dùng liệu pháp kháng đông để làm tan cục máu đông.BN sẽ hồi phục mà không để lại di chứng nào cả .Đối với BN suy tim ,hở van 2 lá dễ có nguy cơ bị đột quỵ ,nên cần cho aspirin hoặc một loại nào đó tránh bị máu cục làm thuyên tắc mạch máu não .

{/tabs}

benhvathuoc.com